THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990

Posted by Admin on Tháng Tám 11, 2012

Tác giả Nguyễn Trung

Trong lịch sử ngoại giao Việt Nam kể từ sau khi đất nước đã hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất ngày 30-04-1975 cho đến hôm nay, sự kiện hội nghị bí mật Thành Đô tháng 9-1990 giữa hai đoàn đại biểu cấp cao hai nước Việt – Trung để bình thường hóa quan hệ là một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa Trung Quốc lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta.

          Tóm tắt lịch sử đã xảy ra: Không thể nào chấp nhận được thắng lợi của Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, ngay sau 30-04-1975 Trung Quốc đã tạo ra cái “bẫy Campuchia”, khuyến khích Khmer đỏ khiêu khích vũ trang đánh Việt Nam và đến tháng 4-1977 Khmer đỏ đã tiến hành chiến tranh lớn tấn công diện rộng toàn vùng biên giới Tây Nam nước ta giáp Campuchia; đồng thời ngày 17-02-1979 Trung Quốc huy động 60 vạn quân phát động cuộc chiến tranh quy mô lớn ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của Việt Nam, với cái đích kiêu ngạo “Dạy cho Việt Nam một bài học”. Với chiến lược căng Việt Nam ra cả hai đầu mà đánh, hai cuộc chiến tranh dã man này nhằm mục đích khuất phục nước ta, trên thực tế đến 1989 mới thực sự im tiếng súng ở biên giới phía Bắc và ở Campuchia. Song cả hai cuộc chiến tranh này đã thất bại, vì Trung Quốc không thực hiện được mục tiêu chiến lược của nó là khuất phục Việt Nam, hơn thế nữa Việt Nam đã đánh tan Khmer đỏ và cứu được nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng. Bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc luôn là đòi hỏi chiến lược của Việt Nam, song tình hình nêu trên cho thấy dù bị sức ép quyết liệt từ phía Trung Quốc và bị bao vây cấm vận vì vấn đề Campuchia, Việt Nam không ở trong thế yếu. Song vào thời điểm cuối những năm 1980 và đầu năm 1990 các nước Liên Xô Đông Âu sụp đổ. Diễn biến này được lãnh đạo nước ta lúc ấy coi là hệ quả phản công của chủ nghĩa đế quốc, và lo rằng nạn nhân kế tiếp có thể là Việt Nam. Với tư duy như vậy, sau nhiều nỗ lực khác không thành vì bị Trung Quốc luôn gây sức ép, lãnh đạo nước ta đã chấp nhận hai đòi hỏi quan trọng nhất của Trung Quốc là rút quân khỏi Campuchia và loại bỏ Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch để mở đầu cho quá trình bình thường hóa quan hệ. Ngày 3 và 4 tháng 9-1990 cuộc họp cấp cao Thành đô được tiến hành, Việt Nam tham gia với mong muốn bình thường hóa quan hệ và liên minh với Trung Quốc để cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa xã hội, bất chấp việc Trung Quốc tháng 3-1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa, bất chấp công cuộc đổi mới của nước ta bắt đầu từ năm 1986 mang lại thành quả bất ngờ và nhanh chóng cải thiện tình hình kinh tế nước ta trong những năm ấy.

          Sai lầm nghiêm trọng thứ nhất là tư duy ý thức hệ đã mù quáng không nhìn ra sự sụp đổ của các nước LXĐÂ cũ tạo ra một cục diện quốc tế mới cho phép nước ta thực hiện triệt để độc lập tự chủ, từ đây có thể đi cùng với cả trào lưu tiến bộ thế giới để bảo vệ và phát triển đất nước mình, không cần phải gắn nước ta vào phe nào hay nước lớn nào. Cơ hội này đã bị vứt bỏ, chẳng những thế mà còn bị xem là nguy cơ lớn nhất đối với đất nước – thực ra là nguy cơ lớn nhất đối với chế độ chính trị.

          Sai lầm nghiêm trọng thứ hai là lẫn lộn hai thứ làm một giữa bình thường hóa quan hệ quốc gia – quốc gia và liên minh ý thức hệ. Từ đó có ảo tưởng liên minh ý thức hệ có thể giải quyết và vượt qua được những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích quốc gia, là cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tư duy như vậy, trên thực tế phía ta đã chấp nhận bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc trên thế yếu và gần như với bất cứ giá nào.

          Bình thường hóa quan hệ Việt Trung kể từ Thành Đô 9-1990, Việt Nam được hưởng một thời kỳ hòa hoãn nhất định với Trung Quốc, song đó là thời kỳ hòa hoãn trên thế yếu và có nhiều sai lầm nghiêm trọng về ý thức hệ. Thực tế diễn ra trong suốt thời gian này cho đến nay là phía Việt Nam đã làm tất cả có thể để hòa hiếu, nhân nhượng, giữ gìn đại cục, với cái đích trung tâm là gìn giữ mối quan hệ chiến lược số một với Trung Quốc. Nhưng toàn bộ thời gian này phía Trung Quốc lại triệt để khai thác mối quan hệ hữu nghị như thế cho việc phát huy tối đa sự can thiệp của quyền lực mềm vào toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam, gây ra không ít khó khăn cho Việt Nam trên lĩnh vực đối ngoại. Đặc biệt là Trung Quốc đã xuất khẩu ngoạn mục “nguy cơ diễn biến hòa bình” vào Việt Nam, để chính Trung Quốc có điều kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến Việt Nam về mọi mặt.

          Nhìn lại hơn 20 năm qua, điểm lại toàn bộ những việc trong quan hệ hai nước đã làm được, từ đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển, phát triển quan hệ kinh tế, việc Trung Quốc trúng thầu hàng trăm công trình kinh tế quốc gia quan trọng của Việt Nam, thuê đất, thuê rừng, bô-ít Tây Nguyên, ti-tan ven biển miền Trung, những hoạt động tăng cường quan hệ thực ra là nhằm tăng cường chi phối nhân sự nước ta, những hoạt động tăng cường giao lưu.., tất cả đều chịu sự chi phối sâu sắc của quyền lực mềm Trung Quốc.

          Những sai lầm, yếu kém chủ quan của ta, do chính ta tự gây nên, cần phải được nhìn nhận khách quan và phê phán nghiêm khắc, không thể đổ thừa cho bất kỳ ai bên ngoài.

Dù khẳng định dứt khoát như thế, vẫn phải đánh giá nghiêm khắc: Tổng hợp tình hình hơn 20 năm qua, thực tế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung càng phát triển, thì Việt Nam càng lệ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc về kinh tế và chính trị, bị uy hiếp nhiều hơn về đối ngoại và quốc phòng. Thực tế này, cùng với ảnh hưởng chính trị nói chung của Trung Quốc vào đối nội của Việt Nam một mặt đang kìm hãm nghiêm trọng toàn bộ sự phát triển của Việt Nam nói chung, mặt khác gây ly tán đến mức nguy hiểm giữa nhân dân và lãnh đạo đất nước, khiến cho trấn áp và mất dân chủ trong đối nội phải gia tăng, đồng thời thực tế này cũng khuyến khích tham nhũng tiêu cực phát triển. Những vụ trấn áp biểu tình vừa qua chống yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông nói lên nhiều điều và càng đổ dầu thêm vào lửa bức xúc trong nhân dân.

Hiện nay, đất nước có rất nhiều yếu kém bên trong, lệ thuộc và hèn yếu về đối ngoại, nguyên nhân của thực trạng này – ngoài cac lẫm lỗi chủ quan của ta – có nguyên nhân chi phối rất nghiêm trọng của ảnh hưởng Trung Quốc.

Ngày nay, lợi ích quốc gia đòi hỏi phải lọai bỏ xu thế đang diễn ra là quan hệ Việt – Trung  càng phát triển thì Việt Nam càng lệ thuộc vào Trung Quốc và tương lai phát triển của Việt Nam càng bị chặn đứng. Ngày nay quốc gia đang đứng trước nguy cơ Trung Quốc tìm cách tiếp tục lấn chiếm biển đảo của đất nước trên Biển Đông. Sau 37 năm độc lập thống nhất, đất nước đang lâm nguy.

Những yếu kém của ta trước đây đã dẫn đến Thành Đô 1990. Không loại trừ nguy cơ những yếu kém hiện nay của nước ta có thể tái lập một Thành Đô 1990 đời mới, với hệ quả là vứt bỏ cả thế giới đang đứng về phía chính nghĩa của nước ta, để quay lại hòa hiếu với Trung Quốc và để đẩy tiếp cả đất nước xuống bùn đen!

Cả nước phải đồng lòng nhất trí loại bỏ nguy cơ mới này. Muốn có được quan hệ hữu nghị thực sự, hợp tác bình đẳng cùng có lợi giữa Việt Nam – Trung Quốc, càng nhất thiết phải loại bỏ nguy cơ Thành Đô 1990 đời mới!

Để mỗi chúng ta có những căn cứ các đáng về mối lo nguy cơ mới, trong phần phụ lục kèm theo bài này, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một số trích dẫn trong tài liệu nghiên cứu của anh Dương Danh Dy về Hội nghị Thành Đô 9-1990.


Phụ lục

Một số ý trích dẫn từ tài liệu nghiên cứu

Hội nghị Thành Đô, tháng 9 năm 1990

Dương Danh Dy, Hà Nội, tháng 10 -2011

“…Ngoài những nhân nhượng “vô nguyên tắc” về CPC như đã trình bày trên, phía Việt Nam đã không hề(hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979  do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.. Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay  “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”…

Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thưòng chiến tranh(trong khi đã nêu vấn đế Mỹ  bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thưòng hoá quan hệ hai nuớc) nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc  về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu “lấy làm tiếc” về hành động phi nghĩa của mình? Nhượng bộ “vô nguyên tắc” này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dưòng như  giành được “vị thế chính nghĩa”  trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính qui  xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta  tại vùng 6 tỉnh  biên giới Việt Nam. Làm cho một bộ phận ngưòi trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: “Việt Nam  xua đuổi nguời Hoa”, “Việt Nam xâm lược Cămpuchia”… là  đúng, việc thế giới “ lên án, bao vây cấm vận Việt Nam” là cần thiết, việc Trung Quốc “cho Việt Nam một bài học” là phải đạo v.v.… trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme đỏ, cứu nhân dân Cămpuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.

…Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc( ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên).

…Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để “bôi xấu, xuyên tạc” Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn ngưòi dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là “kẻ vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát..”. Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc(tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học) tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông” Cảm tình, ấn tưọng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây  dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được…

…Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc “gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch HĐBT kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam”, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến đại hội VII ĐCSVN chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo  có  tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào,  có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước phương tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”…

…Có thể có ngưòi không đồng ý nhận định này, nhưng người viết bài này luôn cho rằng rằng Nguyễn Cơ Thạch là số ngưòi hiếm có trong hàng ngũ lãnh đạo đảng ta lúc đó, ông am hiểu  sâu sắc  tình hình quốc tế, có quan hệ tương đối tốt với một số chính khách phương tây và đặc biệt là người sớm thấy rõ âm mưu ý đồ đen tối của Trung Quốc đối với Việt Nam, đang tích cực vạch trần và ra sức chống lại mọi ý đồ bành trướng bá quyền của họ khiến ban lãnh đạo Bắc Kinh  thấy rằng nếu không cương quyết ép ban lãnh đạo Việt Nam loại bỏ  Nguyễn Cơ Thạch thì Việt Nam sẽ “sớm thoát khỏi vòng tay của Trung Quốc”, sẽ  nhanh chóng có “ vai trò quan trọng trong khu vực và thế giới”, điều mà bất kỳ ban lãnh đạo Trung Quốc thế hệ nào cũng đều không bao giờ muốn. Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm….

…Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưỏng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam ( lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp  cho biết)

Chỉ một ví dụ cụ thể này là đủ nói rõ vấn đề

 …Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “ cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.  “Hội nghị Thành Đô” đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả “to lớn”, “cay đắng” , “nhục nhã”…! Nếu những người có trách nhiệm, không dám công khai toàn bộ tư liệu về hội nghị này và nghiêm chỉnh đánh giá lại “kết quả”

…Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà ngưòi viết xin mạnh dạn khởi đầu  trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

(1)Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước xhcn Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc.  Từ  đó  đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.

Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện “bức tường Berlin” bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yelsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Cộng hoà liên bang Nga, Goovachov từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên, Trong tình hình như thế mà lại chủ trương “bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc”, ”Mỹ và phương tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản. Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới.  Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc”(Hồi ký Trần Quang Cơ)

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xẩy ra “sự kiện Thiên An Môn”, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với ĐCSTQ … Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước phương tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự(có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ)Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc “dắt mũi” kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.

(2)Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo  chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh”kiên cường, bất khuất, không sợ  địch”mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để  sẵn sàng nhận sai  về phần mình trước “kẻ thù”, tuỳ tiện đổ lỗi cho ngưòi tiền nhiệm. Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển  đường lối “cải cách và đổi mới” và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân  thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp “vì chủ nghĩa  xã hội” “vì đại cục”… của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi “láng giềng 4 tốt” của “những đồng chí” luôn rêu rao “16 chữ vàng” đang không ngừng vận dụng những “thành quả cũ” vào trong quan hệ với Việt Nam  chúng ta hiện nay và trong tưong lai….

…”

Hết

Võng Thị, Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2012

Nguyễn Trung

Nguồn: Viet-Studies

* Ông Nguyễn Trung nguyên là Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, thành viên Ban Nghiên cứu của Chính phủ (Phan Văn Khải), Viện Nghiên cứu phát triển IDS

 

 

 

3 phản hồi to “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990”

  1. Đức Giang said

    NHỮNG BÓNG MÂY ĐEN BAO PHỦ QUAN HỆ VIỆT –TRUNG

    Trong thời đại thông tin, chỉ với 1 máy tính có kết nối Internet, dù ở đâu, khi nào người ta cũng có thể post bài lên mạng. Và chỉ với 1 Blog thì hàng trăn, hàng nghìn người có thể upload bài viết, bình luận …tùy thích. Nói cách khác, cho dù muốn hay không người ta khó có thể bịt miệng tất cả mọi người. Thông tin và sự thật không phải là một. Vấn đề nằm ở người xử lý thông tin có đủ trình độ để tìm ra bản chất của sự kiện hay không? Và nhất là người xử lý thông tin có trách nhiệm với xã hội hôm nay và lịch sử hay không mà thôi.
    Thời gian gần đây, nhất là khi vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo Việt –Trung nóng lên, người ta thấy đã xuất hiện ngày càng nhiều những bóng mây đem bao phủ quan hệ Việt – Trung. Đó là những bài viết kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xới lại những vấn đề lịch sử, xuyên tạc, vu cáo, đe dọa sử dụng vũ lực, kích động hận thù dân tộc…, “dạy bảo “ lãnh đạo VN, TQ rằng phải làm thế này thế khác… của tác giả là công dân VN và công dân Trung Quốc.
    Chẳng hạn, ngay sau khi Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton đặt chân đến Hà Nội, 10- 7-012 và có cuộc hội đàm với các lãnh đạo cao cấp VN thì Thời báo Hoàn Cầu có ngay lời đe dọa bằng bài viết “Hà Nội sẽ cảm thấy đau đớn nếu thân Mỹ”. Cần lưu ý rằng, bài viết không hề đề tên tác giả mà chỉ ghi “bởi Thời báo Hoàn Cầu”. Ai cũng biết điều này nhắn gửi thông điệp gì?
    Trước đó, ngày 21/6, cũng trên trang mạng này có bài khiến mọi người khó hiểu: “TQ phải phản ứng lại những hành động khiêu khích của VN”. Bài báo răn đe: “TQ sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ lợi ích của mình trên biển Hoa Nam (cách TQ gọi biển Đông)”, sẵn sàng “sử dụng lực lượng hải giám để đối phó, và nếu cần, sẽ dùng lực lượng hải quân tấn công lại”.
    Ngày 26-6 trên trang web của hãng “Thông tấn Bình luận TQ” dẫn lời tướng Bành Quang Khiêm nói rằng tranh chấp Biển Đông tồn tại từ lâu và tình hình (Biển Đông) đột nhiên căng thẳng là do “VN và Philippines gần đây “liên tục khiêu khích.”!
    Viên tướng này còn xới lại cuộc xâm lược VN quy mô lớn của TQ năm 1979 và rằng: “TQ từng dạy VN một bài học, nếu VN không chân thành sẽ còn nhận bài học lớn hơn.” Tướng Bành còn dùng những ngôn từ kích động rằng “nếu VN tiếp tục diễu võ dương oai, múa trên lưỡi dao, sớm muộn có ngày VN sẽ ngã trên lưỡi dao.”…Có người còn thẳng thắn chỉ ra rằng Thời báo Hoàn Cầu chính là tiếng nói của tờ Nhân Dân nhật báo của ĐCSTQ. Thế nhưng không thấy lãnh đạo đảng CS TQ nhắc nhở gì, chẳng hạn như- viết như vậy là làm ảnh hưởng xấu đến quan hệ hai nước…
    Dân mạng VN đã có bình luận rằng: “ TQ giương lê trên mặt báo” và cho rằng cách làm chính trị, dựa trên sự đe dọa bằng vũ lực đã lỗi thời, rằng đây là điều đáng buồn về văn hóa chính trị trong thời đại văn minh.Thật ra cái gì TQ có thể làm thì họ cũng đã làm rồi. Chiến tranh xâm lược năm 1979 là một bằng chứng.
    Trên một số trang mạng VN, cũng đã và đang xuất hiện những bóng mây đen bao phủ quan hệ Việt –Trung. Nói cho dễ hiểu là làm xấu đi quan hệ Việt –Trung. Trên một số trang mạng “lề trái”, như: http://www.viet-studies.info; http://www.quechoa.vn”; http://www.boxitvn.blogpot.comhttp://www.anhbasam.wordpress.com… người ta thấy nhiều bài viết xới lại sự kiện bình thường hóa quan hệ VN- TQ được lãnh đạo hai nước nhất trí tại cuộc họp ở Thành Đô, tháng 9 năm 1990, trong bài viết: ” Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô, năm 1990”.
    Sau khi dẫn lại những sự kiện: Khmer đỏ đã tiến hành chiến tranh lớn, tấn công diện rộng toàn vùng biên giới Tây Nam VN giáp Campuchia, năm 1977; TQ dùng 60 vạn quân ồ ạt tiến công toàn tuyến biên giới phía Bắc của VN, năm 1979 …(Cuộc chiến tranh này được giới lãnh dạo TQ gọi là “Dạy cho VN một bài học” ); TQ đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá của VN ở Trường Sa, tháng 3-1988 …tác giả đã rao giảng cho giới lãnh đạo VN rằng:
    -Chớ nên “mù quáng tin vào ý thức hệ, trong quan hệ với TQ” mà để mất đi các quan hệ quốc tế khác;
    -Chớ nên ảo tưởng về liên minh ý thức hệ có thể giải quyết được những mâu thuẫn hay xung đột lợi ích quốc gia và xem đó “là cách tốt nhất để bảo vệ quốc gia và chủ nghĩa xã hội ở VN…
    Cũng trong bài viết trên, không hiểu sao tác giả lại đổ cho TQ “xuất khẩu ngoạn mục “nguy cơ diễn biến hòa bình” vào VN, để chính TQ có điều kiện tốt nhất tác động, ảnh hưởng và diễn biến VN về mọi mặt”?
    Những ai có dịp đọc bài này thì đều thấy rõ, đây là một “thông diệp” nhắc nhở lãnh đạo VN hôm nay, qua sự kiện Thành Đô, 1990. Song về khách qua, bài viết lại là một sự xúc phạm những người lãnh đạo tiền nhiệm của VN đồng thời “ dạy khôn” cho những người lãnh dạo của VN ngày nay. Tác giả xem sự kiện Hội nghị Thành Đô, 1990 là “một thất bại nhục nhã của nước ta, bẻ ghi con đường phát triển của nước ta dẫn đến tình hình đất nước như hôm nay: Một lần nữa TQ lại trở thành mối uy hiếp trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và con đường phát triển của nước ta”. Về khách qua, bài viết đã làm sói mòn niềm tin của nhân dân đối với lãnh đạo VN, đặt nhân dân đối lập với Đảng và Nhà nước, họ kêu gọi xã hội ” phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô, năm 1990”!
    Gần đây, lại thêm một bóng mây đen nữa phủ lên quan hệ Việt –Trung. Trên trang mạng “www.danchimviet.info/” ( hải ngoại), ngày 26-08- 2012, Chu Chỉ Nam, kêu gọi “VN hãy vứt bỏ 16 chữ vàng và 4 tốt”.
    Bài báo cho rằng, 16 chữ vàng và 4 tốt ra đời từ Hội Nghị Thành Đô vào tháng 9/1990, đánh dấu CSVN đã “quay trở lại thần phục Trung Cộng”. Và “ nước này luôn luôn dùng lời ngon ngọt để phỉnh gạt CSVN, như “Bốn Tốt” và “Mười sáu chữ vàng”; nhưng trên thực tế Trung cộng lúc nào cũng tìm cách xâm chiếm đất liền và lãnh lãi VN…”. Tác giả hỏi: trước hành động “ Hãng dầu quốc doanh của Trung cộng gọi đấu thầu công khai 9 địa điểm thuộc chủ quyền VN. Phải chăng đây là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy ly, giúp CSVN thức tỉnh, vứt bỏ “Mười sáu chữ vàng ” và “Bốn Tốt”, để có lại một bang giao bình đẳng với Trung cộng?”…Thiết tưởng không có thể kể hết những bài viết nói xấu quan hệ Việt –Trung trên mạng.
    Lịch sử rất “cứng cổ”, khó có thể bẻ gãy, bác bỏ. Sự kiện Thành Đô nếu diễn ra hôm nay, không chỉ VN sẽ ứng xử khác mà ngay cảTQ cũng sẽ ứng xử khác. Vấn đề nằm ở bối cảnh chính trị khác nhau. Nếu những ai có trách nhiệm thật sự với dân tộc thì đều phải hiểu rằng:
    – Bình thường hóa quan hệ với một nước láng giềng lớn, đã từng là người giúp đỡ VN vô cùng to lớn, có hiệu quả trong công cuộc chiến tranh giữ nước làm sao lại có thể xem là sai lầm, là bán nước được?
    – Sao lại có thể đổ cho TQ thúc đẩy “Diễn biến hòa bình ở VN”? còn Hoa Kỳ, EU thì sao? Chẳng lẽ “ diễn biến hòa bình” là do TQ bịa đặt, đánh lạc hướng dư luận VN?
    – Ngày nay Lãnh đạo VN đã có những bài học kinh nghiệm của mình, đừng lo Hà Nội “mù quáng, đặt lợi ích của đảng Cộng sản, của ý thức hệ” lên trên lợi ích của Dân tộc. Thật ra nói như vậy là không đúng sự thật, không công bằng hơn nữa có thể xem là sự xúc phạm, vu cáo cho những người CSVN. Hồ Chí Minh chẳng đã nhiều lần nói: ” Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đó sao?
    Những mâu thuẫn nào đó về lợi ích của các quốc gia có chung đường biên giới là điều có thể hiểu được. Những tranh chấp về chủ quyền giữa VN và TQ là một thực tế, không thể phủ nhận. Vấn đề nằm ở cách giải quyết. Điều này đã được lãnh đạo hai nước thống nhất trong Văn kiện “ Thỏa thuận những Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa VN và nước CHND Trung Hoa”, kết quả cuộc hội đàm, giữa TBT Nguyễn Phú Trọng và TBT, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, Hồ Cẩm Đào … tại Bắc Kinh, ngày 11-10- 2011.
    Những nguyên tắc xử lý chỉ đạo giải quyết đại để gồm những điểm chính: Lấy đại cục là trọng…làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác…; Tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau… Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982…; Hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC).
    “Đối với tranh chấp trên biển giữa VN-TQ, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác…” …Thiết tưởng những gì lãnh đạo hai nước đã làm là vì lợi ích của cả hai dân tộc. Không có chuyện “Hà Nội đang bán nước cho TQ” như có ai đó kích động tinh thần yêu nước của nhân dân để bôi nhọ lãnh đạo VN hiện hữu.
    Ai cũng biết bảo vệ biên giới- không gian sinh tồn của Dân tộc là điều mà bất cứ một dân tộc nào, cho dù nhỏ yếu đến đâu cũng phải làm, làm bằng mọi cách, không loại trừ bất cứ biện pháp nào, kể cả bằng hy sinh xương máu. Song đừng nghĩ rằng dùng “ võ mồm”, “ võ bút”, “võ báo”… là giải quyết được vấn đề. Hơn nữa cũng đừng nghĩ rằng chỉ có đối đầu về chính trị và quân sự, nhất là khi những phương thức giải quyết bằng hòa bình vẫn còn có thể… mới là người yêu nước.
    Đối đầu hoặc tuyên truyền gây hận thù giữa hai dân tộc sẽ có tội với nhân dân hai nước. Hãy tin vào truyền thống văn hiến của hai dân tộc. Nếu thế hệ lãnh đạo hôm nay chưa làm được thì thế hệ mai sau sẽ làm được. Rút cuộc VN và TQ vẫn sẽ phải sống bên nhau và tốt hơn cả là làm những người láng giềng tốt của nhau./.

  2. gia xe toyota altis rs

    Phải chặn đứng nguy cÆ¡ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990 « THÔNG TẤN Xà VỈA HÈ

  3. xe audi cua ngoc trinh

    Phải chặn đứng nguy cÆ¡ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990 « THÔNG TẤN Xà VỈA HÈ

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: