THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 23)

Posted by Admin on Tháng Một 18, 2011

2. Quốc gia tiềm năng đứng đầu: đối thủ tự nhiên của quốc gia đứng đầu

Trong lịch sử của thế giới cận đại, quốc gia đứng đầu và các quốc gia có tiềm năng đứng đầu luôn là những đối thủ trên vũ đài quốc tế. Các nước này cùng nhau hợp tác đối phó những vấn đề quốc tế cụ thể, hình thành nên quan hệ bạn bè; nhưng điều này cũng không thể thay đổi và làm giảm đi mốiquan hệ cạnh tranh địa vị giữa các quốc gia đó. Đồng thời, trong bối cảnh có một số nước tiềm năng đứng đầu, quốc gia đứng đầu phải thực hiện chia để trị, để đối phó với nước tiềm năng có thể thách thức vị trí số một của mình nhiều nhất, quốc gia đứng đầu có thể xây dựng quan hệ đồng minh với các quốc gia tiềm năng đứng đầu còn lại. Nếu trên trường quốc tế chỉ có một quốc gia có tiềm năng đứng đầu thì cạnh tranh chiến lược giữa quốc gia đứng đầu và quốc gia có tiềm năng đứng có nguy cơ tăng, quan hệ đối thủ sẽ bộc lộ rõ.

Theo tốc độ trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc, cùng với sự suy thoái của nước Mỹ trong khủng hoảng tài chính, hai nước Trung – Mỹ cùng phải đối diện, giải quyết các sự vụ, các vấn đề quốc tế, theo đó hình thành “quan hệ đối tác chiến lược mang tính xây dựng” ngày càng mật thiết hơn. Nhưng, “cuộc chiến tranh giành địa vị quốc gia đứng đầu” giữa hai nước Trung – Mỹ có thể cũng ngày càng căng thẳng; “quan hệ đối thủ chiến lược mang tính cạnh tranh” Trung-Mỹ sẽ nổicộm hơn. Đây là xu hướng thay đổi tất yếu, không phải bằng ý chí của hai nước.

Hai nước Trung – Mỹ bước vào cuộc đua

Trong lĩnh vực thể thao, đối thủ cạnh tranh hàng đầu lớn mạnh nhất chính là quán quân và á quân. Á quân muốn làm quán quân, quán quân muốn giữ vị trí luôn là số một là điều tất yếu.

Trong cạnh tranh của đất nước, đặc biệt là sự cạnh tranh giữa nước đứng đầu và nước có tiềm năng đứng đầu, hai thế lực như vậy canh tranh nhau cũng là điều tất yếu. Đương nhiên, ở đây quốc gia đứng đầu là đối thủ của quốc gia á quân, cần phải có quyết tâm cao và năng lực canh tranh cao của nước á quân, nếu nước á quân không có chí hướng, năng lực và tiềm lực cạnh tranh cùng nước đứng đầu, thì quốc gia á quân không thể thành đối thủ của quốc gia đứng đầu. Giống như vậy, một nước đứng sau quốc gia á quân, nhưng có thế lực, tiềm lực và ý chí theo đuổi vươn lên thành số một thế giới, thì nước đó sẽ được quốc gia đứng đầu coi trọng và xem là đối thủ cạnh tranh đáng gờm nhất. Trừ khi nước đó từ bỏ ý định, mục tiêu theo đuổi, hoặc do quốc gia đứng đầu tự nguyện từ bỏ ngôi vị số một của mình, không tiến hành đấu tranh để tự bảo vệ mình, chủ động nhường lại nhiệm kỳ, ngôi thứ.

Lịch sử thật khéo sắp đặt: Trung Quốc là quốc gia có ý chí nhất định phải làm quốc gia đứng đầu, còn nước Mỹ cũng nhất định nuôi ý chí giữ vững địa vị đứng đầu của mình. Như vậy, trận chiến song song tranh giành ngôi vị đứng đầu và bảo vệ vị trí đứng đầu giữa hai nước Trung – Mỹ đang đi vào giai đoạn quyết định.

Lời dự đoán “phòng Hoa” của người Mỹ năm 1942

Đối với quá trình Mỹ đề phòng sự trỗi dậy của Trung Quốc, tiến hành khảo sát lịch sử toàn diện là nhiệm vụ đòi hỏi các chuyên gia có kinh nghiệm và tài năng phải hoàn thành. Nhưng, việc nước Mỹ đưa Trung Quốc vào “tầm ngắm” trên đường đua quốc tế không chỉ là chuyện sau khi Chiến tranh Lạnh, những năm 40 của thế kỷ 20, thời kỳ chiến tranh Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, đã có những ghi chép chứng tỏ điều này. Điều đó cho thấy, người Mỹ vừa có tính cách thực dụng, mưu lợi trước mắt, lại vừa có con mắt nhìn xa và mưu đồ thâm sâu.

Chiến tranh Thái Bình Dương xảy ra không lâu, chuyên gia nổi tiếng quốc tế người Mỹ N.Spike, trong cuốn sách “Chiến lược nước Mỹ trong chính trị thế giới là: quyền lực và thế cân bằng của nước Mỹ”, đã chỉ rõ: “Chính sách nước Mỹ sau chiến tranh nên được chỉ đạo trong khuôn khổ chiến lượctạo thế cân bằng giữa châu Á và châu Âu … lợi ích của nước Mỹ không phải là quyền lực hợp nhất mà là quyền lực cân bằng … mà vấn đề sau chiến tranh không phải là nước Nhật nữa mà chính là Trung Quốc … một nước Trung Quốc hiện đại hóa, đầy sức sống, có 400 triệu nhân khẩu được quân sự hoá, sẽ không chỉ là mối đe dọa đối với Nhật Bản, mà còn uy hiếpcả địa vị của các nước lớn phương Tây ở châu Á. Nếu hiện tạivà trong tương lai, thế cân bằng ở khu vực Viễn Đông không được duy trì, nước Mỹ buộc phải thực hiện chính sách bảo vệ khu vực này như của Nhật Bản”. Cuốn sách này được viết trong sự kiện năm 1941 tại Trân Châu Cảng, nước Mỹ trên dưới đều phản đối, phẫn uất trước những hành động của Nhật, quyển sách này không những có sức ảnh hướng lớn lúc bấy giờ mà đến nay còn là sách cần tham khảo cho nghiên cứu chiến lược phát triển nước Mỹ.

Chiến tranh Lạnh vừa kết thúc, khi trong đống đổ nát của chế độ Liên Xô cũ giải thể còn tỏa ra những luồng khói đen, nước Mỹ đã bắt đầu dò tìm những đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện, họ còn dò xét cả một Trung Quốc dĩ hòa vi quý. Ngày 17 tháng 9 năm 1992 tạp chí “Nghiên cứu chính sách” – cơ quan nổi tiếng là “túi khôn” của Mỹ, đơn vị có truyền thống tổ chức Hội nghị tài chính, có bài viết cho rằng: “Sau khi trải qua thất bại trong một thế kỷ, xem ra Trung Quốc cuối cùng đã kiên định bước lên con đường kinh tế phát triển nhanh chóng, trên lĩnh vực quân sự hiển thị rõ thực lực, điều nàychắc chắn sẽ dẫn đến ảnh hưởng lớn tới toàn châu Á và thế giới. Nó ảnh hưởng rất lớn tới lợi ích kinh tế và lợi ích an ninh của nước Mỹ”. “Trung Quốc là nước lớn duy nhất có quân sự hùng mạnh đang tăng tốc mở rộng lực lượng, hơn nữa còn là một ví dụ thực tế đầu tiên về một chế độ cộng sản chủ nghĩa đang thoả mãn được ước nguyện kinh tế của nhân dân.” Từ đó, “thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc” được sao chép và thổi phồng. Những người cổ vũ luận điệu này thậm chí cho rằng, Trung Quốc cận đại từ trước đến nay bị lăng nhục vì vậy nhất định chờ thời cơ đến để báo thù.

Sau năm 1992, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc, nước Mỹ bắt đầu tăng cường chú ý đến cái gọi là mối uy hiếp mà Trung Quốc có thể gây ra đối với địa vị chủ đạo của Mỹ. Năm 1995, những quan chức cao cấpcủa Bộ Quốc phòng nước Mỹ đã phát biểu: “Điều chúng tôi lo ngại nhất là Trung Quốc lớn mạnh. Nếu Trung Quốc trong 10 năm nữa tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện đã đạt được , thì việc lớn nhất trong chiến lược cuối thế kỷ 20 chính là sự phục hưng, trỗi dậy của Trung Quốc”.

Từ lời dự đoán chiến lược của người Mỹ vào năm 1942 rằng “sau chiến tranh vấn đề chủ yếu không phải là Nhật Bản mà là Trung Quốc”, đến tuyên bố chiến lược của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 1995 rằng việc lớn nhất trong chiến lược cuối thế kỷ 20 chính là sự phục hưng, trỗi dậy của Trung Quốc, nước Mỹ cuối cùng đã hoàn thành việc định vị “vai diễn” của Trung Quốc, những vấn đề của Trung Quốc trở thành chiến lược lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc vinh hạnh trở thành đối thủ số một được Mỹ coi trọng nhất, phải tiếp nhận đòn đánh của những cú đấm kiểu Mỹ.

Trung Quốc bị Mỹ chọn làm đối thủ, không muốn làm cũng phải làm

Rất nhiều người Trung Quốc đã mong chờ, hy vọng là nước Mỹ không xem Trung Quốc là đối thủ. Có người nói Trung Quốc ban hành chính sách “4 không”: không tranh đấu ngôi bá chủ với nước Mỹ; không thách thức trật tự của thế giới; không coi Mỹ là đối thủ cạnh tranh và địch thủ; Trung Quốc không phải là mối uy hiếp của nước Mỹ. Trung Quốc làm đối tác chiến lược có tính xây dựng với Mỹ, muốn hợp tác với Mỹ, hữu hảo với Mỹ. Cho dù những nguyện vọng và kỳ vọng này đều chân thành, hiếm có và đáng quý. Nhưng điều này không làm cho Trung Quốc trốn tránh được vận mệnh trở thành đối thủ của nước Mỹ.

Trung Quốc rốt cục có trở thành đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ hay không, sự sắp đặt này không do ý chí của Trung Quốc mà có thể thay đổi được. Một số nhà chiến lược của Mỹ đã chỉ rõ, nước Mỹ liệu có đề phòng một quốc gia hay không, điều đó không quyết định bởi ý đồ của quốc gia đó, mà quyết định ở lực lượng của quốc gia đó. Kissinger còn nói: “Từ góc độ địa chính, nước Mỹ bao la bát ngát không ai sánh bằng, tài nguyên và nhân khẩu luôn vượt xa khỏi bờ biểnở Âu Á. Bất kể một nửa nào đó trong lục đại ở Âu Á (châuÂu hoặc châu Á) xuất hiện một nước lớn có địa vị chiếm giữ chi phối, thì nước đó là tiêu chí thể hiện rõ nhất sự uy hiếp chiến lược của Mỹ, bất luận có hay không có chiến tranh lạnh. Nếu từ nước đó mà hình thành nên tập đoàn trên lĩnh vực kinh tế và cuối cùng là trong lĩnh vực quân sự, vượt qua năng lực của nước Mỹ, thì nước Mỹ bắt buộc phải chống trả những hiểm họa này, cho dù nước lớn có địa vị chi phối đó thể hiện rõ là họ rất hiền hoà, hữu hảo. Bởi vì, nếu bỗng dưng một ngày ý đồ của nước đó thay đổi, nước Mỹ sẽ phát hiện ra rằng năng lực khống chế hữu hiệu và thay đổi tình thế của mình đã suy yếu rất nhiều.

Nhìn từ góc độ của người Mỹ, ý nguyện của người Trung Quốc không có chỗ dựa, cái mà người Mỹ xem xét là lựclượng (chứ không phải ý nguyện). Đặc điểm quan trọng của người Mỹ trong tư duy chiến lược là: lực lượng quyết định địa vị, lực lượng quyết định tính chất, lực lượng quyết định quan hệ. Quan hệ giữa hai quốc gia là loại quan hệ như thế nào, không phải do ý chí và ý nguyện của những quốc gia đó quyết định, mà chính là do lực lượng quyết định vấn đề đó. Người Mỹ lựa chọn đối thủ chiến lược không lấy tiêu chuẩn lương thiện, hiền hòa, mà căn cứ vào mức độ lực lượng làm tiêu chuẩn. Một chuyên gia người Mỹ nói, chỉ riêng thực tế là tốc độ phát triển, đã khiến Trung Quốc bước vào con đường xungđột với Mỹ. Đây chính là quan niệm chiến lược của Mỹ, là tư duy của nước Mỹ. Trên thế giới chỉ có nước Mỹ là số một, cho nên nước nào có tốc độ phát triển nhanh nhất, giữ khoảng cách ngắn nhất với Mỹ, thì nước đó khó lòng tránh khỏi theo tính chất lịch sử, sẽ trở thành đối thủ của Mỹ, không muốn làm cũng phải làm. Chỉ cần địa vị của anh đứng trong vị trí phát triển nhanh nhất, chỉ anh có cự ly gần nhất với nước Mỹ trong cuộc đua tổng lực quốc gia, thì anh tất yếu sẽ được nước Mỹ xem là đối thủ. Trừ khi anh tự bỏ cuộc, tự phá vỡ hoặc bị Mỹ ngăn chặn lại, còn không anh đừng có mơ tưởng đến việc chạy trốn khỏi “số phận” làm “đối thủ” của Mỹ. Trung Quốc thế kỷ 21 đã vinh hạnh được Mỹ chọn làm đối thủ, khôngmuốn làm vẫn phải làm. Đúng như Kissinger nói: ” Bất luận có hay không chiến tranh lạnh cũng như nhau mà thôi”, “cho dù quốc gia có địa vị chi phối tỏ ra cực kỳ hữu hảo, hiền lành”, cũng không thể được.

Mâu thuẫn cơ bản giữa Trung Quốc và Mỹ là gì?

Nước Mỹ là quốc gia phát triển mạnh nhất trên thế giới, Trung Quốc là quốc gia đang phát triển mạnh nhất trên thế giới, vậy thì mâu thuẫn cơ bản giữa hai quốc gia này là gì?

Học giả người Mỹ Vogel từng tổng kết 10 mâu thuẫn lớn nhất trong quan hệ Trung – Mỹ là: Vấn đề Đài Loan, vấn đềTây Tạng, vấn đề Biển Đông, vấn đề kinh tế, vấn đề tổ chức đa phương và tổ chức quốc tế, vấn đề cách nhìn nhận về mối đe dọa tiềm ẩn đối với châu Á, vấn đề liên minh chiến lược, vấn đề phát triển vũ khí, vấn đề nhân quyền và môi trường.

Thực chất, những mâu thuẫn trên đây đều là những mâu thuẫn cụ thể giữa hai nước Trung – Mỹ, nhưng vẫn chưa chỉ rõ mâu thuẫn căn bản giữa hai nước này. Mâu thuẫn cơ bản giữa hai nước Trung – Mỹ thực chất là mâu thuẫn giữa quốc gia đứng đầu và quốc gia có tiềm năng chiếm ngôi đứng đầu, là quốc gia quán quân và quốc gia dự bị quán quân.

Brezinski từng nói, nước Mỹ là “nước lớn số một trên toàn cầu” cũng là “nước siêu cường cuối cùng trên thế giới”. Mục tiêu chiến lược của Mỹ hiện tại là ổn định ở mức số 1 thế giới, còn mục tiêu của Trung Quốc là chạy nước rút giành ngôi số 1 thế giới. Như vậy là giữa Mỹ và Trung Quốc tất có sự va chạm đụng độ lẫn nhau, khách quan mà nói đấy là sự mâu thuẫn. Vì vậy, mâu thuẫn này là trận quyết đấu giành ngôi vị đứng đầu thế giới.

Mỹ là quốc gia theo chủ nghĩa tư bản lớn nhất thế giới, Trung Quốc là nước đi theo đường lối xã hội chủ nghĩa lớn nhất thế giới. Không có sự tương đồng về hình thái ý thức và chế độ xã hội, đó chính là nội dung chủ yếu và ngọn nguồn mâu thuẫn chính của hai nước lớn. Nhưng, mâu thuẫn Trung-Mỹ không phải là mâu thuẫn hình thái ý thức hệ, Mỹ quan tâm tới vấn đề ngôi vị số 1 của Trung Quốc, không phải là họ “xã’ hay họ “tư”, mà là đối phương mạnh hay yếu. Nước Mỹ không sợ Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xã hội mà sợ TrungQuốc lớn mạnh. Đối với Mỹ mà nói, Mỹ thà cần một nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa không phát triển, chứ không chấp nhận một Trung Quốc tư bản chủ nghĩa hùng mạnh. Chỉ cần Trung Quốc không đuổi kịp vượt mặt Mỹ, không giành mất ngôi vị thủ lĩnh thế giới của nước Mỹ, thì Trung Quốc có theo đường lối xã hội chủ nghĩa, Mỹ cũng sẽ ủng hộ, hợp tác nhiệt tình. Chỉ cần Trung Quốc có ý định trở thành nước số một thế giới, trở thành quốc gia đứng đầu trên thế giới, thì dù Trung Quốc theo tư bản chủ nghĩa hơn cả chủ nghĩa tư bản nước Mỹ, cũng bị Mỹ kiên quyết ngăn chặn. Mâu thuẫn cơ bản sâu sắc và lợi ích cơ bản giữa hai nước Trung – Mỹ là cạnh tranh vị trí, là cạnh tranh làm quốc gia thủ lĩnh, mâu thuẫn về việc ai làm chủ thế giới. Mâu thuẫn cơ bản tiềm tàng sâu xa giữa hai nước Trung-Mỹ và lợi ích quốc gia căn bản là mâu thuẫn về cạnh tranh địa vị quốc gia, cạnh tranh nước thủ lĩnh, ai làm chủ thế giới chìm nổi.

Mâu thuẫn cơ bản giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ trong thế kỷ 21, từ gốc rễ đã quyết định hạt nhân mục tiêu chiến lược của Mỹ với Trung Quốc; không phải “Tây hóa” Trung Quốc về mặt ý thức hệ, mà làm “yếu hoá” Trung Quốc về mặt thực lực quốc gia, làm “thấp hoá” Trung Quốc về mặt thứ hạng quốc gia và làm “chậm hoá” Trung Quốc về mặt phục hưng đất nước. Tất cả những cái gọi là “Tây hóa” “phân hóa” “bôi nhọ” v.v… đều là thủ đoạn chiến lược làm cho sự trỗi dậy và phục hưng của Trung Quốc “suy yếu”, “chậm chạp” và mục đích chính là không cho Trung Quốc đuổi kịp và vượt qua Mỹ trong thế kỷ 21, khiến thế kỷ 21 là “thế kỷ của Mỹ” chứ không phải “thế kỷ của Trung Quốc”.

Quan hệ Trung – Mỹ thế kỷ 21: Cạnh tranh chiến lược, hợp tác chiến lược, cải tạo chiến lược

Quan hệ Trung – Mỹ thế kỷ 21 là cặp quan hệ phức tạp nhất trong lịch sử quan hệ nước lớn từ trước đến nay: trên trường quốc tế là quan hệ cạnh tranh chiến lược, trên lợi ích cộng đồng là quan hệ hợp tác chiến lược; trên ý nghĩa hình thái ý thức là quan hệ cải tạo chiến lược, đây là một hệ thống quan hệ “ba trong một”, trong đó chủ lưu là quan hệ cạnh tranh chiến lược. Quan hệ cạnh tranh chiến lược là quan hệ có tác dụng chủ đạo trong hệ thống quan hệ Trung – Mỹ. Ba quan hệ nói trên cũng có thể nói là “một trung tâm, hai điểm cơ bản” trong quan hệ Trung – Mỹ: lấy cạnh tranh chiến lược làm trung tâm; lấy hợp tác chiến lược và cải tạo chiến lược làm hai điểm cơ bản.

Địa vị của hai nước Trung – Mỹ trên trường quốc tế là quan hệ cạnh tranh chiến lược, cũng có thể nói là quan hệ đối thủ chiến lược. Sự đối lập và khác biệt của lợi ích chiến lược của hai nước Trung – Mỹ đương nhiên dẫn đến cạnh tranh chiến lược. Nước Mỹ với cương vị là quốc gia đứng đầu thế giới, là quốc gia làm bá quyền trên thế giới, họ lo sợ sự trỗi dậy của Trung Quốc tạo ra mối đe doạ với họ. Trung Quốc trỗi dậy đem đến cho thế giới vấn đề mang tính cơ bản sau: ai dẫn dắt thế giới ở thế kỷ 21? Trong vấn đề vị trí chiến lược cơ bản của quốc gia, quan hệ Trung Quốc – Mỹ là quan hệ đối thủ cạnh tranh chiến lược.

Trong các vấn đề có lợi ích chung, quan hệ Trung – Mỹ là quan hệ hợp tác chiến lược, giống như quan hệ đối tác chiến lược. Trung Quốc và Mỹ là hai đối thủ lớn nhất trên thế giới trong thế kỷ 21, nhưng cũng là quan hệ đối tác hợp tác lớn nhất. Trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa thì nền kinh tế các nước đều có chung vận mệnh “một nước phồn vinh, các nước cùng phồn vinh”; trong điều kiện quản lý toàn cầu hóa trở thành cơ sở phát triển của bất kỳ dân tộc, quốc gia nào, Trung Quốc và Mỹ là hai nước lớn nhất trên thế giới, tất yếu phải tiến hành hợp tác với nhau. Chiến lược gia người Mỹ ThomasBarnet nói: “Kỳ tích của châu Á nói chung và Trung Quốc với tư cách một nước lớn trỗi dậy về công nghiệp chế tạo, đối với đầu tư của chúng ta mà nói, không phải là điều xấu. Chúng takhông được quên trong 10 năm qua, châu Á có vai trò không thể xem thường đối với sự tăng trưởng kinh tế của chúng ta. Trong những “quốc gia hạt nhân”, không có quốc gia nào có thể tự mình làm tất cả mọi việc. Chúng ta ngày càng giống như ngồi chung trên một cỗ xe song mã, tiến cùng tiến mà lùi thì cùng lùi”.

Quan hệ Trung – Mỹ về mặt hình thái ý thức là quan hệ cải tạo, tức là quan hệ cùng ảnh hưởng lẫn nhau. Trong quá trình hai nước Trung – Mỹ hợp tác và cạnh tranh, văn hoá Mỹ hưởng đến Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc cũng sẽ cải tạo nước Mỹ. Trong thời kỳ cải cách mở cửa Trung Quốc học hỏi thế giới, bao gồm học hỏi vay mượn những thứ có ích của nước Mỹ. Vai trò cải tạo của Trung Quốc đối với Mỹ không những trong lĩnh vực quốc nội mà tương lai còn lan rộng trên toàn thế giới, làm cho Mỹ từ một quốc gia dân chủ kiểu quốc nội dần tiến hoá theo hướng quốc gia phi bá quyền trên trường quốc tế. Lực lượng ngăn chặn của quốc tế còn hạn chế, là nguyên nhân quan trọng gây nên chủ nghĩa bá quyền nước Mỹ. Dùng phi bá quyền của Trung Quốc hạn chế cái bá quyền của Mỹ, dùng văn hóa hài hòa của Trung Quốc để cải tạo văn hóa bá quyền của Mỹ, có thể khiến nước Mỹ đi đến dân chủ hoá và văn minh hóa trong quan hệ quốc tế.

Hai quốc gia Trung – Mỹ bất luận là cạnh tranh chiến lược hay hợp tác chiến lược nhưng đều mang tính xây dựng. Cạnh tranh mang tính chất xây dựng là cuộc cạnh tranh tích cực, là loại trừ phương thức chiến tranh, là hình thức cạnh tranh vượt lên mô hình Chiến tranh Lạnh. Hợp tác mang tính xây dựng là hợp tác mà không hi sinh chính nghĩa và sự công bằng quốc tế, không nhằm vào và làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia thứ 3. Hợp tác và cạnh tranh mang tính xây dựng cần phải là “cạnh tranh có mức độ”- không thể cạnh tranh không giới hạn; “hợp tác có nguyên tắc”- không thể hợp tác không trên nguyên tắc nào. Quan hệ hợp tác cạnh tranh mang tính xây dựng giữa hai nước Trung – Mỹ phù hợp với lợi ích của Trung Quốc, phù hợp với lợi ích của Mỹ, cũng phù hợp với cả lợi ích hòa bình và phát triển của thế giới.

“Việc lớn số một” của Tổng thống Mỹ là gì?

Từ sau khi Mỹ ở vào vị trí lãnh đạo thế giới phương Tây, bảo vệ “quyền lãnh đạo” của Mỹ đã trở thành trọng tâm lợi ích quốc gia của Mỹ.

Cuộc Chiến tranh Lạnh là cuộc chiến tranh tranh giành quyền lãnh đạo thế giới giữa Mỹ và Liên Xô, dây dưa, kéo dài hơn 40 năm. Sau Chiến tranh Lạnh, trong các báo cáo hàng năm mang tính chiến lược mà nước Mỹ công bố như: “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia”, “Báo cáo đánh giá quốc phòng bốn năm một lần”, “Báo cáo quốc phòng”, “Văn kiện về tình hình đất nước của tổng thống”… đều khẳng định và bảo vệ vai trò lãnh đạo của Mỹ đối với thế giới, đây cũng là nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược an ninh quốc gia Mỹ. Cái gọi là “an ninh nước Mỹ”, trước tiên là an ninh về vị trí lãnh đạo, địa vị bá quyền của Mỹ với thế giới. Giáo sư chínhtrị học Jonh Milste thuộc trường Đại học Chicago của Mỹ, khitrả lời phỏng vấn Đài truyền hình trung ương, từng nói rằng:”Đứng trên cương vị là một Tổng thống, chiến lược cơ bản của nước Mỹ là: thứ nhất phải chiếm lấy vị trí thống trị thế giới phương Tây…. Thứ hai là phải đảm bảo trong phạm vi toàn cầu không có đối thủ cạnh tranh với Mỹ. Có nghĩa là, không có quốc gia nào khác dùng phương thức lãnh đạo thế giới phương Tây của chúng ta lãnh đạo khu vực của họ. Trong thếkỷ 20, nước Mỹ gắng sức bảo đảm Nhật, Đức, Liên Xô, cũngkhông thể thống trị được châu Á, hoặc châu Âu, bởi vì Mỹ không muốn có những quốc gia cạnh tranh giống như họ. Trong tình hình hiện nay, rõ ràng nước Mỹ đã trở thành nước lớn mạnh nhất trên thế giới, họ không có đối thủ cạnh tranh và những quốc gia đang có tiềm lực làm đối thủ cạnh tranh. Trong tương lai gần, điều này vẫn không thể thay đổi”.

Điểm cao khống chế chiến lược quốc gia của Mỹ ở thời điểm hiện nay là: ngăn chặn xuất hiện một nước cạnh tranh chiến lược nổi lên, một nước thách thức bá quyền, một nước chạy đua với Mỹ, một nước có khả năng thay thế địa vị bá quyền của Mỹ. Hàng năm tổng thống Mỹ đều rất bận rộn trong việc giải quyết các loại mâu thuẫn. Nhưng vấn đề chiến lược cơ bản mà tổng thống Mỹ quan tâm nhất là vị trí bá quyền trên thế giới của nước mình, chính là không có đối thủ cạnh tranh trên thế giới hoặc đối thủ cạnh tranh tiềm tàng. Có thể nói chiến lược của tổng thống Mỹ là chiến lược bá chủ.Đây là đặc trưng chiến lược của tổng thống Mỹ và là nhãn quan quốc tế của tổng thống Mỹ.

Xây dựng một thế giới hài hòa, cần tăng cường tinh thần cạnh tranh

Ở thế kỷ 21, Trung Quốc có một cơ hội, đó là cơ hội cùng Mỹ cạnh tranh đứng đầu thế giới trong một vòng đua mới. Cái gọi là thời kỳ cơ hội chiến lược, ranh giới cao nhất của nó là ở chỗ này. Cơ hội không thể để tuột mất, thời cơ khó có thể trở lại.

Cơ chế của nước Mỹ là một cơ chế cạnh tranh, bao gồm cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Trên phương diện cạnh tranh quốc tế nước Mỹ là cao thủ thực hiện chủ nghĩa bá quyền. Cạnh tranh trong nước bao gồm: cạnh tranh giữa hai đảng, cạnh tranh giữa các cơ quan trong Chính phủ, cạnh tranh giữa các bang, cạnh tranh giữa quân đội và địa phương, cạnh tranh trong lực lượng quân đội, cạnh tranh giữa tư bản ruộng đất và tư bản tiền tệ, cạnh tranh giữa những xí nghiệp cũ và mới, cạnh tranh giữa tư bản lớn nhỏ và cạnh tranh giữa người với người. Người Mỹ hun đúc trong chủnghĩa của Đác-uyn, tôn sùng giá trị của cạnh tranh, xem năng lực cạnh tranh xuất sắc là tố chất cần thiết, đầy đủ của một con người, để mà bình xét, tán thưởng. Nhưng cạnh tranh trên nhiều phương diện của nước Mỹ, lại tạo thành một loại hạn chế tương hỗ cân bằng, tạo ra sự kết hợp giữa cơ chế cạnh tranh và cơ chế cân bằng, bảo đảm sức sống và ổn định của nước Mỹ.

Thế giới hài hòa không chỉ dựa vào chữ “hòa” mà có thể sáng tạo nên được. Cũng như vậy, thế giới hòa bình không chỉ dựa vào chữ “hòa” mà có. Nguyên tắc rừng cây vẫn tiếp tục tồn tại trong trật tự xã hội, trong bối cảnh chủ nghĩa bá quyền vẫn tồn tại, bất luận xây dựng một “nhà nước dân chủ” trong nội bộ quốc gia hay là xây dựng một “thế giới dân chủ” trong cộng đồng quốc tế, đều không thể dựa vào một chữ “hòa” mà tạo thành được. “Hòa” không chỉ là một cách làm, mà còn là một kết quả. Bất kể là thế giới hòa bình, thế giới hài hòa, thế giới dân chủ đều là kết quả của một loại cạnh tranh, đều là một loại cân bằng lực lượng. Nhưng trong thời kỳ lịch sử tương đối dài, do Trung Quốc thiếu tinh thần cạnh tranh và lực lượng cạnh tranh, tôn sùng văn hoá “hoà” – “hòa vi quý”, “hòa vi thượng”, kết quả không chỉ khiến trong nước thiếu động lực, sức mạnh đối với sáng tạo thế giới bình ổn, mà còn không phát huy được vai trò đáng có của mình. Vì vậy, nhà văn Lỗ Tấn khi bàn về tính cách Trung Quốc, trong nội dung châm biếm tính cách của người dân nước này, có nói đến một điểm quan trọng là “gặp chuyện buồn, họ cho là không may; họ phẫn nộ, nhưng không đấu tranh” .

Đối với tính cách “không cạnh tranh” của Trung Quốc, Lỗ Tấn không cảm thấy yên tâm và tôn sùng, mà còn thấy phẫnnộ. Ông cho rằng tính không cạnh tranh của người Trung Quốc là nguyên nhân chủ yếu tạo nên sự bất hạnh và bi ai củadân tộc. Nước Trung Quốc mới là do Mao Trạch Đông lãnh đạo cả một thế hệ làm cách mạng, đấu tranh trong vài chụcnăm mới có được. Trung Quốc trỗi dậy do Đặng Tiểu Bình vàvài thế hệ lãnh đạo Đảng, dẫn dắt cả một thế hệ người Trung Quốc thực hiện cải cách, “đấu tranh” mà có được. Trung Quốc thế kỷ 21 chỉ có trong cuộc đua tranh gấp rút làm quốc gia đứng đầu và quốc gia thủ lĩnh, mới có thể thực hiện sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa.

 

Kỳ sau: 3. Nước Mỹ kiềm chế sự đột phá của Nhật Bản như thế nào?

→“Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa kỳ” (Kỳ 1,2,3,4)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ(Kỳ 5)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 6)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 7)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 8 )

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 9)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 10)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 11)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 12)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 13)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 14)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 15)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 16)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 17)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 18)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 19)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 20)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 21)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 22)


 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: