THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 11)

Posted by Admin trên Tháng Mười Một 27, 2010

CHƯƠNG 3 : THỜI ĐẠI TRUNG QUỐC: THỜI ĐẠI HẠNH PHÚC CỦA THẾ GIỚI
Sự xuất hiện của mỗi một quốc gia đứng đầu thế giới đều sẽ mở ra một thời đại. Việc mở ra thời đại Trung Quốc là trách nhiệm lịch sử của Trung Quốc, là tiêu chí thành công cho sự phục hưng và trỗi dậy của Trung Quốc, cũng là xu thế tất yếu của tiến bộ lịch sử.

Thời đại Trung Quốc, về bản chất, là “thời đại hạnh phúc” của thế giới. Trong khi phê phán “thuyết về họa Trung Quốc” của phương Tây, Tôn Trung Sơn chỉ rõ, thời đại Trung Quốc trong tương lai không phải là thời đại “họa Trung Quốc” mà là thời đại “ân huệ Trung Quốc”, “lợi ích Trung Quốc” và “hạnh phúc Trung Quốc”. Thời đại Trung Quốc không phải là thời đại Trung Quốc đe dọa thế giới mà là thời đại Trung Quốc mang lại hạnh phúc cho thế giới.
1. Thời đại Trung Quốc: Thời đại địa vị lãnh tụ của Trung Quốc được xác lập trên thế giới

Tiêu chí đầu tiên của thời đại Trung Quốc chính là xác lập địa vị lãnh tụ trên thế giới, phát huy vai trò chỉ đạo đối với cộng đồng quốc tế.

Tại “Hội nghị các cơ quan tư vấn và học giả toàn cầu” tổ chức ở Bắc Kinh ngày 3/7/2009, phóng viên của “Tuần báothời đại” đã có cuộc đối thoại với cựu Chủ tịch Ủy ban châuÂu Romano Prodi về một loạt vấn đề điểm nóng trên thế giới.
Phóng viên: “Liệu có phải cục diện thế giới đang có những thay đổi mạnh mẽ, Trung Quốc ở vị trí nào trong quá trình này?

Prodi: “Thế vận hội đã cho thấy một ‘Trung Quốc thân thiện’ với thế giới, có những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng quốc tế. Cách đây không lâu, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tham gia hội Hội nghị cấp cao của G-20, ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc đã hơn hẳn bao giờ hết, không có Trung Quốc, G-20 căn bản không nhóm họp được, điều này cho thấy Trung Quốc đang từng bước tiến tới hàng ngũ các nhà lãnh đạo thế giới.”

Câu nói “Trung Quốc đang từng bước tiến tới hàng ngũ các nhà lãnh đạo thế giới” của Prodi đã là một sự thực quá rõ ràng trong cộng đồng quốc tế. Lâu nay, Trung Quốc bị gạt ra ngoài hàng ngũ các nhà lãnh đạo thế giới, và hiện đang tiến dần vào hàng ngũ này, Trung Quốc nên và phải tiến vào hàng ngũ này và Trung Quốc cũng sẽ tiến được vào hàng ngũ này.

Trung Quốc không có “tội ác trong quá khứ”

Cho đến nay, tất cả các nước lớn trỗi dậy trong lịch sử cận đại đều mang một quá khứ không mấy tốt đẹp, đều có “tiền án phạm tội”. Các nước đó đều đã từng đi xâm lược, thực dân, cướp đọat, hai tay nhuốm đỏ máu. Nhưng sự vươn lên của Trung Quốc là sự vươn lên văn minh, vươn lên “sạch”. Trung Quốc không hề “phát hiện” ra thế giới “mới”, không xâm chiếm thuộc địa, không buôn bán nô lệ, không buôn bán ma túy và không xâm lược nước khác. Trung Quốc là nước lớn duy nhất trên thế giới không mang “tội ác trong quá khứ”, xuất thân trong sáng, lịch sử minh bạch, đạo đức cao sang.Đây là điều kiện quan trọng để Trung Quốc đảm nhiệm vai trò lãnh đạo.
Lịch sử vươn lên của các nước lớn phương Tây là lịch sử có phạm tội ác trong quá khứ. Tội ác của các nước lớn phương Tây là thông qua tạo ra một Châu Phi lạc hậu để tạo ra mộtChâu Âu phát triển. Việc buôn bán nô lệ của Đại Tây Dương và hậu quả của nó đã cho thấy rõ mức độ nghiêm trọng của tội ác này. Ngay từ thời kỳ “phát hiện lớn về địa lý”, Châu Phi đã bắt đầu trở thành nguồn “tích lũy nguyên thủy” tư bảncủa Châu Âu và trở thành “khu săn bắt người da đen mang tính thương mại”. Năm 1492, Côlômbô phát hiện ra lục địa mới Châu Mỹ, “đặt nền móng cho hoạt động buôn bán nô lệ da đen”. Theo thống kê vào đầu thế kỷ 17, bình quân mỗi năm Châu Phi bán ra nước ngoài hơn 10 nghìn nô lệ. Hoạtđộng buôn bán nô lệ ở Đại Tây Dương tại Châu Phi kéo dài tới 4 thế kỷ. Trong đó, thế kỷ 17 và 18 là giai đoạn diễn ramạnh mẽ nhất, ngoài Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan và Pháp cũng tham gia các hoạt động buôn bán nô lệ giữa2 bờ Đại Tây Dương. Năm 1714, sau khi cuộc chiến tranh giành vương vị ở Tây Ban Nha kết thúc, theo “Hiệp ước Utrecht”, Anh được Tây Ban Nha trao quyền buôn bán nô lệ Châu Phi tại thuộc địa của quốc gia này trong thời gian 30 năm. Do kinh tế trồng trọt của Châu Mỹ phát triển nhanh, nhu cầu về lao động nô lệ khiến số lượng tàu thuyền vận chuyển nô lệ tăng lên nhanh chóng. Ví dụ như nước Anh, năm 1709 Liverpool chỉ có một thuyền buôn nô lệ, đến năm 1730 tăng lên 15 thuyền, năm 1771 là 105 thuyền và năm 1792 là 132 thuyền. Mác đã chỉ ra rằng, “Liverpool phát triển lên là nhờ buôn bán nô lệ”. Từ năm 1709 đến năm 1787, trọng tải các tàu buôn trong thương mại đối ngoại của Anh đã tăng lên 14 lần, tăng nhiều nhất là các tàu buôn bán nô lệ. Các quốc giaChâu Âu khác cũng thu được những nguồn lợi khổng lồ từ việc buôn bán nô lệ Châu Phi. Nantes, Bordeaux (Pháp); Amxtécđam(Hà Lan); Niu Yoóc, Boston, Phidadelphia (Mỹ) đều là những thành phố ít nhiều phát triển nhờ vào hoạt động buôn bán nô lệ. Vào thế kỷ 18, khu “mậu dịch tam giác” phát triển cực thịnh. Đây là khu mậu dịch được tạo thành từ 3 lộtrình: trước tiên là người Châu Âu đi thuyền từ cảng khẩu của nước mình đến bờ Tây của Châu Phi, dùng những sản phẩm giá rẻ rượu mạnh, hàng dệt may, đồ trang sức, vũ khí để đổi hoặc cướp đoạt nô lệ, sau đó đưa các nhóm nô lệ lên tàu và chuyển tới thuộc địa của Châu Mỹ đổi lấy khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp, cuối cùng là mang nguyên liệu và sảnphẩm của Châu Mỹ về Châu Âu và đem bán tại thị trường các nước. Khu mậu dịch tam giác đã giúp những kẻ buôn bán nô lệ có thể thu được lợi nhuận từ 100%-300% cho mỗi lần ra khơi. Một người da đen khi rời bờ biển Châu Phi có giá 50 USD, nhưng khi đến Châu Mỹ sẽ được bán với giá 400 USD. Các nhà sử học Châu Phi đã chia lịch sử buôn bán nô lệ thời cận đại của châu lục này thành 3 giai đoạn: Một là, từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 17, đây là giai đoạn hoạt động buônbán nô lệ qua Đại Tây Dương bắt đầu nổi lên, với phạm vichủ yếu tập trung tại hai bờ Đại Tây Dương. Hai là, từ giữa thế kỷ 17 đến nửa cuối thế kỷ 18, đây là giai đoạn hoạt động buôn bán nô lệ Châu Phi diễn ra mạnh mẽ nhất. Ba là, từ nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19, hoạt động buôn bán nôlệ (đặc biệt là buôn bán nô lệ qua Đại Tây Dương) bắt đầu suy thoái. Cuốn sách “Hoạt động buôn bán nô lệ Châu Phi từ thế kỷ 15-19” có viết, từ thế kỷ 16-19, tổng số nô lệ xuất ra khỏi Châu Phi ước khoảng 15-30 triệu người, nếu tính cả những người bị chết trong quá trình vận chuyển, con số này tổng cộng 210 triệu người. Lãnh tụ phong trào người da đen ở Mỹ Dubois cho rằng từ thế kỷ 16-19 có ít nhất 10 triệu nô lệ được vận chuyển từ Châu Phi tới Châu Mỹ, nếu tính cả những người tử vong trên đường vận chuyển, con số này ước khoảng 60 triệu người. Giáo sư sử học Mỹ Cutin đã tiến hành thống kê lại tài liệu và cho rằng từ giữa thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, đã có hơn 11 triệu nô lệ Châu Phi bị bán ra ngoài (chưa bao gồm số người bị chết trong quá trình bị bắt và vận chuyển). Hoạt động buôn bán nô lệ mang thảm họa đến cho xã hội Châu Phi, khiến xã hội châu lục này suy thoái toàn diện. Các nước phương Tây cần phải lập ra “Quỹ chuộc tội” đối với châu lục này.
Tây Ban Nha đã phạm phải tội áp bức tôn giáo. Năm 1526, quốc vương Tây Ban Nha Sác-lô V hạ lệnh, mỗi một đội tàu phải mang theo một người truyền giáo, nếu không sẽ không được phép rời cảng. Năm 1532, Sác-lô V đã thỉnh cầu giáo hoàng phái 200 giáo sĩ tới Châu Mỹ Latinh. Theo ghi chép của nhà truyền giáo nổi tiếng Las Cass, mỗi khi chinh phục được một vùng đất, các nhà chinh phục Tây Ban Nha liền ra lệnh, dùng vũ lực và các hình phạt tàn khốc nhất để ép người dân nước đó phải theo đạo Cơ đốc, đồng thời chấp nhận sự thống trị của quốc vương Tây Ban Nha. Những kẻ bất tuânlập tức sẽ bị xử tội chết. Đảo Antilles ban đầu có 3 triệu người Indian sinh sống, đến năm 1514 giảm còn 14 nghìn người và cuối cùng chỉ còn lại có 200 người.

Mác nói: “Để chiếm đoạt được Malắcca, người Hà Lan đãtừng phải hối lộ cho tổng đốc Bồ Đào Nha. Năm 1641, viêntổng đốc này cho phép họ vào thành. Để “tiết kiệm” khoản hối lộ 21875 bảng Anh, họ đã lập tức đến nhà ở của viên tổng đốc và giết chết ông. Họ đi đến đâu, nơi đó biến thành một vùng hoang vu, thưa thớt bóng người. Tỉnh Banjuwanji của Java năm 1750 có hơn 80 nghìn dân nhưng đến năm 1811 chỉcòn lại 8000 người. Đây chính là một kiểu thương mại ôn hòa!”
Được coi là “cường đạo của cường đạo”, Nhật Bản mang tội ác thảm sát loài người. Sự tàn nhẫn của Nhật Bản còn nổi danh cả ở các nước quốc gia phương Tây. Tháng 11/1894,quân Nhật tiến công xâm chiếm Đại Liên, Lữ Thuận, giết người cướp của ở khắp nơi. Trong cuộc thảm sát ở Lữ Thuận, có 20 nghìn người ở Trung Quốc gặp nạn, chỉ có 36 ngườitrong đội thu dọn thi thể là không bị sát hại. Báo chí Châu Âu và Mỹ đã lên án hành vi tàn bạo của quân đội Nhật, “Báo thế giới Niu Yoóc” viết: “Nhật Bản là một con quái vật đội lốt văn minh nhưng lại mang tâm địa dã man.” Trong 15 năm chiến đấu chống quân Nhật xâm lược, quân dân Trung Quốc thương vong 35 triệu người, trong đó có 20 triệu người thiệt mạng. Tổn thất tài sản trực tiếp là 100 tỷ USD, tổn thất kinh tế gián tiếp là 500 tỷ USD. Trong cuộc chiến tranh của Nhật Bản tại Thái Bình Dương, tổng số người chết khi đánh nhau và bị giết hại tại Philíppin lên tới trên 1,11 triệu người, còn tại Việt Nam đã có 2 triệu người chết đói chỉ trong vòng 1 năm từ năm 1944-1945. Số lao động Inđônêxia bị bắt đi có khoảng 2 triệu người thiệt mạng. Tại Malaixia, số người bị quân Nhật giết hại đã vượt qua con số 100 nghìn. Tại Thái Lan và Mianma, chỉ riêng việc cưỡng chế xây dựng tuyến đường sắt Thái Lan đến Mianma (còn gọi la tuyến đường sắt chết chóc) đã làm cho 12 nghìn tù binh và khoảng 250 nghìn công nhân thiệt mạng.

Mỹ cũng là nước phạm tội ác chồng chất. Ngày16/9/1620, 102 tín đồ Thanh Giáo Đồ của nước Anh bước lên con tàu “Hoa tháng 5”, trải qua 66 ngày vượt biển mới tới được Bắc Mỹ đại lục, sang năm thứ 2 chỉ còn lại 50 người. Nhưng trong năm 1621, khi mùa màng bội thu liền tổ chức lễ hội để tạ ơn Thượng đế đã ban ơn. Năm 1863, Tổng thống Lincoln tuyên bố lấy ngày thứ 5 của tuần thứ 4 trong tháng 11 là ngày “Lễ tạ ơn”, và là ngày nghỉ của cả nước trong thời gian 4 ngày. “Lễ tạ ơn” là ngày tết đặc biệt nhất ở Mỹ, trong con mắt người dân Mỹ, ở một góc độ nào đó ngày “Lễ tạ ơn” còn quan trọng hơn cả ngày chúa Giêsu ra đời. Nếu nói về tạ ơn thì người Indian mới là ân nhân lớn của người da trắng bước chân lên lục địa châu Mỹ, nhưng người da trắng lại lấy oán trả ơn. Năm 1703, tại Hội nghị lập pháp, những kẻ thực dân đã quyết định, những ai lột được một miếng da của người Indian và bắt được một người da đỏ sẽ được thưởng 40 bảng Anh, đến năm 1720 tăng lên 100 bảng Anh. Năm 1744, da đầu của một bé trai Indian từ 12 tuổi trở lên có giá 100 bảng Anh mệnh giá mới, một nam tù binh có giá 105 bảng Anh, một phụ nữ hoặc trẻ em có giá 50 bảng Anh, da đầu của phụnữ và trẻ em có giá 50 bảng Anh. Ở lục địa Bắc Mỹ, nỗi thống khổ của người Indian bị người da trắng bức hại kéo dài 4 thế kỷ, đầu thế kỷ 16, dân tộc này có khoảng 3 triệu người, đến năm 1860 còn lại 340 nghìn người, năm 1890 là 270 nghìnngười và đến năm 1910 chỉ còn 220 người. Đầu thế kỷ 20, mặc dù đã có tư cách công dân Mỹ nhưng người Indian vẫn chưa được hưởng những quyền lợi liên quan, mặc dù họ nộp thuế đúng pháp luật nhưng vẫn bị bắt lao dịch và phải sống tập trung tại những khu đất nghèo nàn. Do vậy, nước Mỹ càng cần phải có ngày “lễ chuộc tội”.

Trung Quốc, một quốc gia không có tội ác trong quá khứ, là quốc gia có tư cách nhất trong việc đảm nhiệm vai trò lãnh đạo thế giới.
Trung Quốc có nguồn gien văn hóa ưu tú nhất


Ưu thế văn hóa của một dân tộc là điều kiện văn hóa để một nước đảm nhiệm vai trò lãnh đạo thế giới. Người Mỹ chỉ có một kiểu văn hóa-văn hóa chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc là nơi lưu trữ, tập hợp và phân tán các nền văn hóa và truyền thống văn minh của nhân loại. Người Trung Quốc có nền văn hoá cổ đại lâu đời nhất trên thế giới, đây là nền văn hoá truyền thống duy nhất trong hệ thống văn hóa cổ điển thế giới không bị đứt đoạn; người Trung Quốc đã tập trung được nền văn hóa xã hội chủ nghĩa lấy chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo, nền văn hoá cách mạng này không hề bị sụp đổ khi chủ nghĩa xã hội trên thế giới rơi vào thoái trào; Trung Quốc còn là nước học tập và tiếp thu văn hoá tư bản chủ nghĩa qui mô lớn nhất và thành công nhất trong quá trình cải cách mở cửa, từ đó hình thành nên một nền văn hoá mở đặc sắc và mới mẻ. Văn hóa Trung Quốc có nguồn gien và tố chất văn hóa tốt nhất để làm người lãnh đạo thế giới.

Trung Quốc có kinh nghiệm lãnh đạo thành công lâu đời

Có quan điểm cho rằng “Trung Quốc muốn làm một cường quốc chứ không muốn là lãnh đạo”, điều này cần phảibàn bạc lại. Đem mục tiêu vươn lên, phát triển của Trung Quốc và sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa giới hạn ở mức “làm cường quốc” chứ không phải là “lãnh đạo”, những luận điểm này tuy làm người Mỹ thích thú nhưng đối với Trung Quốc thì chẳng khác nào tự kìm hãm sự phát triển của mình. Mục tiêu của Trung Quốc trong thế kỷ 21, không thể chỉ giới hạn ở mức độ là “cường quốc”.

Thế giới toàn cầu hóa đang dần trở thành con thuyền chung của toàn nhân loại, ai sẽ là người chèo lái con thuyền này là vấn đề có liên quan đến tiền đồ và vận mệnh của thế giới, việc Mỹ nắm giữ vai trò này tỏ ra ngày càng thiếu hiệu quả khiến cộng đồng thế giới không an tâm. Tháng 11/2009, Tổng thống Obama sang thăm Trung Quốc một lần nữa gây tranh cãi gay gắt về việc Trung Quốc đảm nhiệm “vai trò người lãnh đạo” thế giới. Tờ “Nhật báo Phố Uôn” có viết: “Cộng đồng quốc tế đang nóng lòng chờ Trung Quốc đảm nhiệm vai trò lãnh đạo.”

Dụ dỗ Trung Quốc sớm đảm nhiệm vai trò lãnh đạo thế giới có thể là một cái bẫy của Mỹ. Nhưng con thuyền thế giới cũng không thể để người Mỹ chèo lái mãi, bởi Mỹ đã gây khủng hoảng toàn thế giới và làm rách nát con thuyền thế giới. Muốn tự cứu mình và cứu thế giới, Trung Quốc cần phải chuẩn bị để làm người chèo lái. Tất nhiên, tình hình thế giới phức tạp, những vấn đề mang tính toàn cầu không ngừng phát sinh, thế giới đa cực hóa đang từng bước hình thành, sợ rằng không một quốc gia nào có thể một mình chèo lái con thuyền thế giới. Nhưng đây không thể là lý do ngăn Trung Quốc trở thành người lãnh đạo.

Nước lãnh đạo không có nghĩa là “nước bá quyền”. Anh và Mỹ đã từng là những nước lãnh đạo thế giới và đều là những quốc gia bá quyền trên thế giới, nhưng điều này không có nghĩa là những nước lãnh đạo tiếp sau Mỹ cũng phải là mộtnước bá quyền. Ý nghĩa của việc Trung Quốc trở thành nước lãnh đạo thế giới nằm ở chỗ cắt đứt các mối liên quan giữa nước lãnh đạo và nước bá quyền, tạo ra một nước lãnh đạo nhưng không phải là nước bá quyền, mở ra thời đại mới trong lịch sử thế giới, đó là thời đại có nước lãnh đạo nhưng không có nước bá quyền.

Nhà nước dân chủ không phải là nước “không có người lãnh đạo” mà là nước dân chủ sản sinh ra lãnh đạo và là nước sản sinh ra lãnh đạo dân chủ. Thế giới dân chủ và thế giới đa cực cũng không phải là thế giới không có “quốc gia lãnh đạo”, mà là thế giới không có “quốc gia bá quyền”. Cái mà thế giới dân chủ cần không phải là “quốc gia lãnh đạo” xưng bá, thế giới đa cực lại càng cần một “quốc gia lãnh đạo” có thể giúp thế giới phát triển hài hòa. Bởi vậy, bất kể là quốc gia dân chủ hay thế giới dân chủ đều cần lãnh đạo, chỉ có điều người lãnh đạo này là người lãnh đạo của dân chủ cao độ, do dân chủ sản sinh ra chứ không phải là lãnh đạo kiểu quân chủ hay bá quyền.

Khi nào Trung Quốc có thể trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới, có thể bước lên vị trí lãnh đạo, điều này còn tùy thuộc vào khả năng của Trung Quốc và cần có quá trình, dù có thể làm người chèo lái cũng cần tất cả các nước chung tay góp sức. Nếu vì nhiệm vụ chèo lái nặng nề mà từ bỏ mục tiêu trở thành “quốc gia lãnh đạo” thì Trung Quốc sẽ mãi ngồi trên con tàu do người Mỹ chèo lái, đó là hành động thiếu lòng tin và quyết tâm vươn lên.

Trung Quốc sẽ mãi mãi không xưng bá và quyết không đi đầu, đây là một tư tưởng chiếm lược sâu sắc. Tuy nhiên, cần phải có một cách lý giải biện chứng về tư tưởng “không đi đầu”. Bởi trước kia, “đi đầu” nghĩa là bá chủ, đứng đầu tức là “bá chủ”, đi đầu tức là xưng bá, việc “đi đầu” như vậy đương nhiên mãi mãi Trung Quốc không làm. Trước đây, một số nước “đứng đầu” là “đứng đầu” liên minh, trong chiến tranh khu vực và toàn cầu, một số nước kết thành liên minh để đối kháng với liên minh các nước khác, “đứng đầu” kiểu này là “đứng đầu liên minh”, Trung Quốc cũng không thể “đứng đầu” như vậy. Nhưng Trung Quốc không đứng đầu với ý nghĩa bá chủ hay chủ tịch liên minh không có nghĩa là sẽ không tham gia vào tất cả các vấn đề, cũng không có nghĩa là không phát huy được vị trí và vai trò là một nước lãnh đạo trên thế giới. Trung Quốc đóng vai trò đầu tầu trong phát triển kinh tế thế giới, duy trì hòa bình và thúc đẩy phát triển, đi đầu trong việc đối phó với những vấn đề mang tính toàn cầu, tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy tiến bộ toàn thế giới về đối ngoại, thiết lập trật tự thế giới mới ổn định, công bằng; về đối nội, giúp người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Do đó, Trung Quốc của thế kỷ 21 vừa phải là một cường quốc, vừa không thể từ chối vai trò lãnh đạo.

Trung Quốc có hàng ngàn năm kinh nghiệm đứng đầu thế giới, có truyền thống tốt đẹp để làm một quốc gia lãnh đạo, đây là món tài sản vô cùng quý giá, phục hưng dân tộc Trung Hoa lại một lần nữa tiến đến vị trí dẫn đầu thế giới và viết lên trang sử huy hoàng cho đất nước. Trung Quốc đã trải qua bao nhiêu thăng trầm: hưng thịnh-suy thoái-rồi lại hưng thịnh, từ chỗ đứng đầu thế giới, Trung Quốc sẽ trở thành quốc gia có kinh nghiệm lãnh đạo phong phú nhất trên thế giới. Trung Quốc bước lên vị trí lãnh đạo thế giới nhất định sẽ là một người lãnh đạo ưu tú nhất.

Vấn đề lãnh đạo toàn thế giới cần có tư tưởng của Oasinhtơn

Tư tưởng của Oasinhtơn, tổng thống khai quốc của Mỹ có 2 biểu hiện lớn: một là khi cả thế giới đang thực thi chế độ quân chủ và khi ông được một số quan chức tiến cử làm Hoàng đế, ông đã kiên quyết từ chối sự hấp dẫn của chế độ này và lập nên “chế độ Cộng hòa” đầu tiên của nước Mỹ, làm cho Mỹ trở thành quốc gia cộng hòa tiên tiến nhất trên thế giới. Hai là, sau khi giữ chức tổng thống Mỹ hai nhiệm kỳ liên tiếp, dù được cả nước mong chờ và các giới nhất trí đề cử ông làm nhiệm kỳ 3, ông đã kiên quyết phản đối, và lập nên “chế độ nhiệm kỳ” đầu tiên ở Mỹ. Oasinhtơn là một người có đầuóc lãnh đạo và nên là một nhà lãnh đạo của đất nước. Đường lối chính trị trong nước của Oasinhtơn phải là tấm gương cho đường lối chính trị trên thế giới của Mỹ.

Đáng tiếc là Mỹ lại tỏ ra hết sức ích kỷ trong vấn đề vị trí lãnh đạo cộng đồng quốc tế. Trong bản báo cáo “Từ kiềm chế tới lãnh đạo thế giới: nước Mỹ sau Chiến tranh Lạnh và thế giới” của công ty Rand của Mỹ có viết: “Là nước giành chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh, Mỹ có nhiều sự lựa chọn chiến lược, có thể từ bỏ trách nhiệm lãnh đạo toàn thế giới, trở lại quan tâm hơn ở trong nước; có thể từng bước giao quyền lãnh đạo, tức là giảm bớt vai trò toàn cầu và khuyến khích một cục diện cân bằng trên cơ sở phạm vi thế lực kiểu cũ ra đời; vừa có thể xác định mục tiêu chiến lược trung tâm là củng cố vị trí lãnh đạo toàn cầu đồng thời loại bỏ sự trỗi dậy của các địch thủ.” Sự lựa chọn của Mỹ là: “đảm nhiệm vai trò lãnh đạo toàn cầu đồng thời kiềm chế vĩnh viễn sự trỗi dậy của các địch thủ hoặc cục diện đa cực-là phương châm chỉ đạo lâu dài tốt nhất. Một thế giới do Mỹ lãnh đạo sẽ có nhiều lợi ích nhất: Một là, môi trường tổng thể rộng mở hơn, những quan niệm giá trị về pháp chế, thị trường tự do và dân chủ của Mỹ sẽ được đón nhận nhiều hơn. Hai là, dễ dàng hợp tác đối phó với những vấn đề lớn như phổ biến vũ khí hạt nhân, mối đe dọa của bá quyền khu vực và xung đột mức độ thấp. Ba là, có thể loại bỏ sự trỗi dậy những đối thủ toàn cầu khác, từ đó tránh được những thảm họa do Chiến tranh Lạnh, chiến tranh nóng và các cuộc chiến mang lại, bao gồm cả chiến tranh hạt nhân toàn cầu. Do đó, Mỹ giữ vị trí lãnh đạo sẽ có lợi cho ổn định toàn thế giới hơn là một cục diện cân bằng hai cực hoặc đa cực.”

Trong vấn đề quyền lãnh đạo toàn thế giới, Mỹ cần học hỏi tư tưởng của Tổng thống Washington. Sự phát triển của một quốc gia cũng giống như một con người, không được thamquyền hám vị. Đây là sự văn minh và khai sáng của Mỹ, cũng là vận may của thế giới.
Điều đáng mừng là người dân Mỹ lại không ủng hộ một nước Mỹ bá quyền mà ủng hộ một thế giới dân chủ. Huntington cho biết: các quan chức Mỹ “ca ngợi Mỹ là một vị bá chủ nhân từ”, tung hô Mỹ là “siêu cường theo kiểu phi đế quốc chủ nghĩa đầu tiên”, nhưng “trong một cuộc trưng cầu dân ý năm 1997, chỉ có 13% số người được hỏi mong muốn Mỹ giữ vai trò chủ đạo trong các công việc quốc tế, 74% trong số đó hi vọng Mỹ cùng chia sẻ quyền lực với các quốc gia khác”, “Nước Mỹ còn thiếu nền tảng chính trong nước để xây dựng một thế giới đơn cực”.

Không thể biến “nước lãnh đạo” thành “nước bá quyền”

Trong lịch sử thế giới cận đại, những nước đóng vai trò lãnh đạo cộng đồng quốc tế đồng thời cũng là bá quyền thế giới, là một nước lãnh đạo mang tính chất bá quyền, những nước nắm vai trò lãnh đạo này đồng thời là nước bá quyền. Trong tương lai, nếu là một nước lãnh đạo, Trung Quốc sẽ phải thay đổi đặc tính này, tạo bước chuyển biến căn bản đầu tiên, rằng “nước lãnh đạo” không phải là “nước bá quyền”, trở thành nước lãnh đạo không mang tính chất bá quyền đầu tiên sau thời đại Mỹ.

Từ sau khi các nhà hàng hải ra châu Âu có những phát hiện lớn về địa lý, từ mối liên hệ về địa lý để liên kết các khuvực phân tán trên Trái Đất thành một cộng đồng thống nhất thì một nhu cầu mới đã được sinh ra, đó là nhu cầu về “ trật tự thế giới”, đó là nhu cầu quản lý thế giới và lãnh đạo thế giới. Việc hình thành một trật tự thế giới đòi hỏi phải trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Cộng đồng quốc tế đã có 500 năm lịch sử, nhưng trật tự thế giới lý tưởng nhất cho đến nay vẫn chưa thực sự hình thành, trật tự thế giới muốn đạt đến mức độ trật tự như các quốc gia thì còn phải đi qua một quãng đường rất dài.

Diễn biến lịch sử quá trình phát triển quyền lãnh đạo thế giới có thể chia thành 3 giai đoạn như sau:

Một là giai đoạn “vô chủ”, có cộng đồng quốc tế nhưng chưa có trật tự quốc tế. Giai đoạn này có đặc trưng cơ bản là “cường giả vi đạo”, “năng giả vi phỉ” (kẻ mạnh là đạo tặc, kẻ tài là thổ phỉ), có một số ít quốc gia sử dụng vũ lực để tàn sát, bóc lột các quốc gia và khu vực khác, bắt tận giết tuyệt, hủydiệt văn minh. Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan trong thời kỳ đầu chính là điển hình “cường giả vi đạo” của cộng đồng quốc tế trong thời kỳ đầu, các nước này đã thực thi quy tắc “luật rừng” của Hobbes “mạnh được yếu thua” ngay trong khi rừng nguyên thủy vừa mới hình thành trong cộng đồng quốctế. Đây là giai đoạn trước khi cuộc chiến 30 năm từ 1500-1648 kết thúc, khoảng gần 150 năm.

Hai là giai đoạn “bá chủ”, tức là kẻ mạnh làm chủ, kẻ mạnh xưng bá. Sau khi cuộc chiến 30 năm từ 1648, cộng đồng thế giới bắt đầu có một trật tự quốc tế đầu tiên, bước vào thời đại tìm bá chủ thông qua chiến tranh, dựa vào bá chủ để xây dựng và duy trì trật tự quốc tế. Những nước bá chủ điển hình thời kỳ này là Anh và Mỹ, đại diện điển hình cho trật tự quốc tế thời đại bá quyền là “hòa bình dưới sự thống trị của Anh” và “hòa bình dưới sự thống trị của Mỹ”. Giai đoạn này bắt đầu từ năm 1648 đến nay, đã trải qua 3 nửa thế kỷ.

Ba là giai đoạn “dân chủ”. Tiêu chí cơ bản của giai đoạn này là việc Trung Quốc bước lên vị trí nước lãnh đạo, là dân chủ hóa trong quan hệ quốc gia và dân chủ hóa trong cộng đồng quốc tế.

Sự lãnh đạo bá quyền của Mỹ với thế giới đã lạc hậu so với thời đại, là một nước lãnh đạo không xứng đáng, lãnh đạo bá quyền của Mỹ ngày càng bị chỉ trích. Trong cuộc phỏng vấn với Đài truyền hình Trung Quốc, Cựu thủ tướng Malaixia Mahathir đã nói như sau: “Nước Mỹ có nhiều cơ hội tốt để bộc lộ văn minh của mình, bất hạnh là các nhà lãnh đạo Mỹ đã chứng minh thực lực của mình bằng phương thức xâm lược. Bao gồm cả quyền ưu tiên tấn công, tức là khi chưa bị nước khác tấn công, nước Mỹ cho rằng mình có quyền tấn công vàchinh phục những nước khác. Điều này khiến nhiều nước nhỏrất lo lắng. Đây không phải là vai trò Mỹ cần gánh vác, Mỹ nên là một công dân quốc tế tốt, nên đồng thuận với các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc về việc giám sát mối quan hệ quốc tế và biểu hiện của các nước. Tôi cho rằng Mỹ có thể trở thành một quốc gia tốt, có thể gánh vác trách nhiệm thế giới. Nhưng cần phải xây dựng được thế cân bằng giữa Mỹ và các nước khác, nếu không Mỹ sẽ lấn áp nước nhỏ. Một nhà lãnh đạo tốt không nên hiếu chiến, cần làm những việc hợp đạo lý. Phát động chiến tranh xâm lược nước khác, sát hại nhân dân, đây không phải là một lãnh đạo tốt, cần phát triển đất nước mình, mang lại một cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân, nhưng không vì thế mà xâm lược nước khác, cướp đoạt mọi thứ của nước khác. Không thể vì đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân của nước mình mà đi xâm lược một nước giàu tài nguyên dầu mỏ, mà cần thông qua sự nỗ lực, phát triển công nghiệp để đạt được. Có thể cố gắng mang lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân không phải trả giá bằng việc hy sinh một nước khác. Xâm lược nước khác, cướp đoạt tài nguyên cho mình sử dụng là khái niệm vương quốc cũ kĩ, sai lầm.” Là một nước lãnh đạo mới, Trung Quốc sẽ không đi theo con đường bá quyền của Mỹ mà sẽ bảo vệ hòa bình và sự hài hòa của thế giới.

Trung Quốc phải học tập cách “xưng vương chậm” của Mỹ

GDP của Mỹ năm 1895 đã vượt qua Anh và vươn lên đứng đầu thế giới. Nhưng đến năm 1945, sau nửa thế kỷ tổng lượng kinh tế Mỹ vượt qua Anh, tức là sau Chiến tranh thế giới thứ 2, Mỹ mới thay thế được vị trí lãnh đạo thế giới của Anh. Hiện tổng lượng kinh tế của Trung Quốc chưa vượt qua Mỹ, sau khi vượt qua Mỹ 50 năm rồi mới bàn về vấn đề lãnh đạo thế giới cũng không muộn, vì vậy Mỹ không cần phải lo lắng. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng phải “gấp rút giành vị trí đứng đầu, gánh vác trọng trách”, không vội vàng đảm nhiệm vai tròlãnh đạo thế giới. Để Mỹ đảm nhiệm thêm một thời gian sẽ tốt hơn.

Thực ra, Mỹ “xưng vương chậm” không phải là tự giác mà là vì bất đắc dĩ. Mỹ lâu nay mang dã tâm xưng bá thế giới, thậm chí là trước khi Mỹ trở thành một quốc gia, những ngườiChâu Âu đầu tiên vượt biển cả đã có lý tưởng và quyết tâm xây dựng “thành phố trên đỉnh núi” tại Bắc Mỹ để làm “ngọn hải đăng thế giới” dẫn dắt nhân loại. Họ cho rằng mình là những người được thượng đế chọn lựa để lãnh đạo “thiên mệnh” của thế giới. Nhưng do thực lực có hạn, vào cuối thế kỷ 19, Mỹ chỉ có thể thực hiện chiến lược chủ nghĩa cô lập. Chiến tranh thế giới thứ Nhất là bước ngoặt quan trọng làmsuy yếu các cường quốc Châu Âu và nâng cao thực lực của Mỹ. Trong chiến tranh, tổng lượng kinh tế Mỹ đã vượt quatổng các nước Châu Âu, điều này làm tăng tham vọng của Mỹ, khiến Mỹ vội vàng bước lên vị trí lãnh đạo thế giới. Wilson đã phát biểu “kế hoạch mười bốn điểm”, đề xướng thành lập Quốc liên, vứt bỏ cương lĩnh thực thi lãnh đạo thế giới, vẽ ra kế hoạch thao túng thế giới, là những lý luận và thực tiễn quan trọng để Mỹ thiết kế và lãnh đạo thế giới. Nhưng do Mỹ vừa mới bộc lộ tài năng, thực lực kinh tế vẫn chưa đủ hùng hậu để chuyển hóa thành năng lực làm chủ cục diện thế giới, uy tín của Mỹ vẫn khó có sức thuyết phục trên vũ đài thế giới, trong khi đó uy thế của các nước đế quốc già cỗi như Anh và Pháp vẫn còn tồn tại, “giấc mộng nước Mỹ” lãnh đạo thế giới của Wilson bị phản đối ở cả trên vũ đài quốc tế lẫn trong nước, kết quả là Mỹ không thể trở thành người lãnh đạo thế giới, bản thân Wilson cũng chết yểu trên đường đi du thuyết “giấc mộng nước Mỹ” và trở thành một khoảng lịch sử thê lương. Do vậy, Mỹ không kịp leo lên vị trí lãnh đạo thế giới để thực hiện “giấc mơ lãnh tụ” của mình và đành phải trở lại quỹ đạo của chủ nghĩa cô lập.

Trung Quốc muốn trở thành nước lãnh đạo thế giới trong thế kỷ 21 phải trải qua nỗ lực nửa thế kỷ và qua 3 giai đoạn: Một là, trong quá trình đuổi theo và tiếp cận Mỹ phải tích cực tham gia lãnh đạo thế giới; hai là khi đã sánh ngang được với Mỹ thì cần phải cùng Mỹ lãnh đạo thế giới; ba là sau khi vượt qua Mỹ được một thời gian, Trung Quốc cần nắm vai trò chủ đạo trong lãnh đạo và quản lý thế giới, trở thành lãnh đạo chủ yếu trên thế giới. Trước mắt, Trung Quốc tích cực tham gia lãnh đạo và đang tiến tới cùng lãnh đạo, giai đoạn này cần kéo dài khoảng 20-30 năm.

Con đường lãnh đạo thế giới mà Trung Quốc đang hướng tới là con đường bắt nguồn từ “Mộc lập vu lâm” đến “Mộc tú vu lâm”, từ hòa nhập vào thế giới đến lãnh đạo thế giới. Không có khả năng độc lập với các dân tộc trên thế giới thì không có tư cách để hòa nhập vào thế giới. Nhưng hòa nhập vào quỹ đạo của thế giới không phải là mục tiêu của chúng ta, mà là cần phải làm nên thành tựu to lớn, trở thành nước lãnh tụ để dẫn dắt thế giới, chủ đạo thế giới, lãnh đạo thế giới.

Kỳ sau: Thời đại Trung Quốc: Thời đại mô hình phát triển của Trung Quốc hơn hẳn thế giới

→“Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa kỳ” (Kỳ 1,2,3,4)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ(Kỳ 5)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và tư thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 6)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 7)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 8 )

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 9)

→Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 10)

Advertisements

Một phản hồi to “Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (Kỳ 11)”

  1. […] Giấc mộng Trung Hoa: Tư duy nước lớn và vị thế chiến lược của Trung Quốc tro… […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: