THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á

Posted by Admin trên Tháng Sáu 2, 2010

Bài khảo luận Biển Giao Chỉ và Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á cho chúng ta thấy rằng suốt trong 3 triều đại Tống, Nguyên, Minh vắng bóng những chuyến hải hành qua vùng biển chữ U, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng đòi chủ quyền

Bản đồ Google chỉ vùng biển Giao Chỉ

Tuy rằng kim chỉ nam [chỉ nam châm 指南針] được sáng chế trước thời nhà Tần, nhưng mãi cho đến đời Tống dụng cụ này còn khá đơn giản, chỉ có hai hướng nam bắc mà thôi. Bắt đầu từ đời Nguyên, kim chỉ nam được phân định 48 hướng ; nhờ vậy sử dụng vào việc hàng hải đáng tin cậy hơn. Kim chỉ nam thời nay dùng 360 độ, trước kia có 48 hướng, như vậy vào thời ấy khoảng cách giữa 2 hướng kế tiếp là 7,5 độ [360 : 48 = 7,5]

Qua bài Biển Giao Chỉ chúng tôi đã đề cập đến Chu Khứ Phi, một vị quan tại vùng Lãnh Ngoại, thời Tống Quang Tông [1190-1194]. Qua tác phẩm LÃNH NGOẠI ÐẠI ÐÁP ông cho biết tàu thuyền đến các nước Phiên [tên người Trung Quốc xưa gọi các nước thuộc Ðông Nam Á ngày nay] phải qua biển Giao Chỉ [Giao Chỉ dương] rồi theo hướng nam mà đi.

Ðời Nguyên Chu Ðạt Quan, trong CHÂN LẠP PHONG THỔ KÝ, dùng kim chỉ nam với 48 hướng, mô tả hải trình đến nước Chân Lạp [Cam Pu Chia] như sau :

“ Khởi hành từ Ôn Châu [thuộc tỉnh Chiết Giang] theo hướng Ðinh Mùi [202,5 độ] qua các hải cảng tại Mân [Phúc Kiến], Quảng [Quảng Ðông], biển Thất Châu [phía đông đảo Hải Nam], biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành. Lại từ Chiêm Thành theo chiều gió khoảng nửa tháng đến Chân Lạp. Từ Chân Lạp theo hướng Khôn Thân[232,5 độ] qua biển Côn Lôn, rồi vào cảng.” 

Cần lưu ý biển Côn Lôn là vùng biển xung quanh Côn Ðảo hiện nay ; vị trí Côn Ðảo với núi cao là điểm nhắm khá chính xác, để tàu bè Trung Quốc xưa lấy hướng đi xuống các nước Ðông Nam Á.

Dưới thời Minh, Trịnh Hoà dẫn một đoàn quân đến thị uy và thăm viếng vùng Ðông Nam Á, chuyến hành trình được gọi là “ Trịnh Hoà hạ Tây Dương ”. Cuộc hải hành sử dụng 63 chiếc bảo thuyền, mỗi thuyền chiều dài 44 trượng 4 xích [151,18 mét], rộng 18 trượng [61,6 mét], có 9 cột buồm, sử dụng 12 chiếc buồm, vật dụng nặng đến mấy ngàn cân, cần dùng 200 người chuyên điều hành. Về kỹ thuật Trịnh Hoà sử dụng kim chỉ nam 48 phương vị, kết hợp với “ quà dương khiên tinh thuật ” tức thuật quan sát thiên văn để dẫn đường. Minh Sử chép “ Bảo thuyền cao lớn như lầu, đáy nhọn, phía trên rộng, có thể chứa hàng ngàn người ”. Trước sau Trịnh Hoà hạ Tây Dương 7 lần ; 6 lần đầu dưới thời Minh Thái Tông, lần cuối dưới thời Minh Tuyên Tông :

– Lần thứ nhất từ năm 1405 đến 1407

– Lần thứ 2 : 1407-1409

– Lần thứ 3 : 1409-1411

– Lần thứ 4 : 1413-1415

– Lần thứ 5 : 1417-1419

– Lần thứ 6 : 1421-1422

– Lần thứ 7 : 1430-1433

Thống kê tất cả hải trình bao gồm 20 tuyến hàng hải :

– Tuyến thứ nhất từ Ngũ Hổ Môn, Phúc Kiến đến Chiêm Thành, mất 10 ngày đêm ; hành trình đi qua duyên hải Quảng Ðông, biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành.

– Tuyến thứ 2 từ Chiêm Thành đến nước Chân Lạp, mất 3 ngày đêm.

-Tuyến thứ 3 từ Chiêm Thành đến nước Tiêm La [Thái Lan] mất 10 ngày đêm.

– Tuyến thứ 4 từ Chiêm Thành đến núi Giao Lan [nay thuộc Lan Ðảo, Indonesia], mất 10 ngày đêm.

– Tuyến thứ 5 từ Chiêm Thành đến nước Trảo Oa [Java] mất 20 ngày đêm.

– 15 tuyến còn lại gồm hài trình giữa các nước từ Mã Lai trở xuống phía nam. 

Vào gần cuối triều Minh, một bộ sách nổ tiếng về hàng hải ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 45 [1617], được đưa vào TỨ KHỐ TOÀN THƯ. Sách mamg tên ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, tác gỉả là Trương Tiếp. Ông người đất Long Khê, đậu cử nhân năm Vạn Lịch thứ 23 [1595]. Ðể hoàn thành tác phẩm, tác giả đã tham khảo hàng trăm bộ sách nổi tiếng, cùng nhiều loại HẢI ÐẠO CHÂM KINH tức tài liệu dẫn đạo hàng hải ; bao quát chi tiết về chỉ nam châm, thiên văn, và thuỷ văn của các chuyến hải trình. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, cung cấp các tài liệu hàng hành cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng đông nam Á. Trương Tiếp cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator], căn cứ vào tài liệu có sẵn, hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý :

– Phương hướng : trên thuyền có kim chỉ nam, lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được ; ví như hướng đơn Hợi = 330 độ ; hướng Nhâm Tý = 352,5 độ.

– Khoảng cách : không tính bằng dặm, mà tính bằng canh ; một ngày một đêm có 10 canh.

– Ðộ sâu : không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thuỷ thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1,6 m.

Giống như hải trình của Trịnh Hoà đến các nước Ðông Nam Á ; trong quyển 9, ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, Trương Tiếp cho biết các thuyền buôn Trung Quốc cũng đi qua biển Giao Chỉ. Thuyền được mô tả “ lớn rộng 3 trượng 5 hoặc 6 xích , dài hơn 10 trượng ; thuyền nhỏ rộng 2 trượng, dài khoảng 7,8 trượng. Trên thuyền trang bị vũ khí cung, tên, đao, thuẫn đầy đủ, gặp giặc đến mọi người cương quyết tự vệ ; thuyền chắc như trường thành, không dễ gì bị huỷ hoại. Khi tạo thuyền tổn phí hơn ngàn lượng vàng, hàng năm tu bổ không dưới 500 lượng ; ngoài số tiền chủ thuyền bỏ ra, các con buôn đóng góp vào như kiến tha vào tổ ; kinh phí lớn gấp 3 thuyền chiến, nên ắt phải chắc chắn hơn.” Tuy nhiên đây là thuyền buôn cần phải bán hàng dọc theo hải trình, nên lần lượt ghé qua các hải cảng tại miền nam nước Ðại Việt, Chiêm Thành, trước khi hướng kim chỉ nam về đảo Côn Sơn, để đi xuống vùng Ðông Nam Á. Hải trình tiêu biểu lần lượt qua những chặng như sau :

Bản đồ 1 : Hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á

– Ô Trư sơn : [tại cửa sông Châu Giang tỉnh Quảng Ðông] Trên có miếu Ðô Công, khi thuyền qua biển này, mang lễ vật cúng lạy từ đằng xa, xin thần phối hưởng, dùng thuyền giấy rực rỡ tống tiễn thần. Từ biển này theo dòng nước 10 sải tay, hướng đơn Thân [240 độ], đi 13 canh đến Thất Châu Dương.

– Núi Thất Châu, Thất Châu dương : QUỲNH CHÂU CHÍ chép Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý ; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Trang Tông, bắt thân thuộc là Lưu Ðình Khuê tại nơi này. Tục truyền thời xưa có 7 châu chìm xuống dưới biển ; thuyền đến mang súc sinh và cháo cúng thần, không tuân sẽ biến thành ma đói. Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường ; nơi mà QUỲNH CHÍ chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm. Từ châu Thất Dương theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 3 canh đến Ðồng Cổ Sơn.

– Ðồng Cổ sơn : QUẢNG ÐÔNG THÔNG CHÍ chép núi tại phía đông bắc huyện Văn Xương. Dân Liêu đúc đồng thành trống lớn, treo trước đình ; gặp giặc thù đến thì đánh trống báo động, mọi người đến đông đúc. Sau đó vùi vào núi này, dân địa phương đào lấy được nên có tên như vậy ; QUỲNH CHÂU CHÍ nói biển Ðồng Cổ thực thâm hiểm. Theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thuyền đi 4 canh đến Ðộc Châu Sơn.

– Ðộc Châu sơn : tên tục là Ðộc Trư sơn ; QUỲNH CHÂU CHÍ chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý ; các nước phương Nam đến cống, thuỷ trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương ; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến. Theo dòng nước 65 sải tay, hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 10 canh đến biển Giao Chỉ.

Bản đồ 2 : Hàng hải từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á

– Từ biển Giao Chỉ theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ], thời gian 11 canh [1 canh = 2giờ 24 phút] đến núi Ngoại La. Núi này trông xa như một cửa thành, đến gần thấy phía đông cao, phía tây thấp, có hồ Liễu Tử, phía tây có hòn Cổ Lão.

Căn cứ vào khoảng cách, phương hướng và sự mô tả ; Ngoại La Sơn hay núi Ngoại La có thể là cù lao Ré, tức huyện đảo Lý Sơn, vì tại đây có hòn lớn và hòn bé, ngoài biển từ xa nhìn vào như hai cột của cửa thành. Ngoài ra sách VIỆT SỬ CƯƠNG GIÁM KHẢO LƯỢC [越史綱鍳考畧] của Nguyễn Thông chép về đảo Lý Sơn có câu 理山島又名外岣嶗 俗稱外嶗 [Lý Sơn đảo hựu danh Ngoại Cù Lao, tục xưng Ngoại Lao] Ðảo Lý Sơn lại có tên là Ngoại Cù Lao, dân thường gọi là Ngoại Lao ; phải chăng người Trung Quốc đọc chệch hai chữ “ Ngoại Lao ” thành “ Ngoại La ” ?

– Từ Ngoại La Sơn thuyền men theo phía tây, theo luồng nước sâu 45 sải tay, hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến cầu Mã Lăng, trong đó là Ðề Di, một huyện của Giao Chỉ.

Sách ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ  của nước ta chép : Tấn Ðề Di ở phía đông bắc huyện Phù Cát [Bình Ðịnh], rộng 11 trượng, thuỷ triều lên sâu 6 thước, thuỷ triều xuống sâu 4 thước, phía tây có đầm nước ngọt, thuyền buôn thường đỗ tại đây, thủ sở tại địa phận thôn An Quang….

Nơi đây thuộc lãnh thổ Việt Nam, nên cũng cần biết qua cách thức giao dịch giửa chủ thuyền buôn Trung Quốc cùng quan lại và dân chúng nước ta ; sự việc được chép trong mục Giao dịch, quyển 1 Giao Chỉ, ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO :

“ Khi thuyền buôn ghé, mang lụa đến trình báo Tù trưởng. Sau đó viên chủ thuyền đến gặp Tù Trưởng, hành lễ 4 vái ; dâng lễ cống phương vật, số lượng đã thành qui định. Tù trưởng đãi ăn và cấp cho bài gỗ, treo bài tại nhà lồng chợ để dân tự do mua bán. Viên Tù trưởng lên xe đi, giao cho viên quan lo việc mậu dịch trông coi. Tù trưởng tại Quảng Nam có thể ra hiệu lệnh cho các Tù trưởng địa phương tại Liệt Can, Ðông Kinh, Ðề Di, Tân Châu. Phàm thuyền buôn ghé tại Tân Châu, Ðề Di phải đi mấy ngày đến Quảng Nam nhập cống ; viên Tù trưởng Quảng Nam cấp bài gỗ giao cho. Dân thấy bài gỗ thì kính cẩn, không dám to tiếng. Tại Thuận Hoá có nhiều phụ nữ đến mua bán, phụ nữ để tóc trần gió bay phất phơ, đưa trầu cau mời ăn để tỏ vẻ ân cần. Riêng sĩ nhân yêu thích sách, đem nhiều tiền để mua.

Mở Tống Sử ra xem cũng chép rằng cống sứ An Nam đến kinh đô, xin được mua sách ; quan phụ trách bảo rằng pháp luật không cho. Chiếu vua khen là biết mộ điều phải, chấp nhận ; chứng tỏ rằng người nước đó thích sách không phải chỉ có một lần ! ”

– Từ cầu Mã Lăng tại Ðề Di theo luồng nước sâu 25 sải tay, bờ phía nam có đá ngầm, khi ra khỏi theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 4 canh đến bán đảo Giao Bôi, tức cảng Tân Châu. Tại đây hình thế 2 bán đào như 2 chén giao nhau, nên có tên là Giao Bôi.

Ðịa danh Tân Châu, được xác định trong MINH THỰC LỤC ; khi tường thuật việc phái đoàn nhà Minh cầm đầu bởi Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong Vương cho Bàn La Trà Duyệt, theo thông lệ ghé đến cảng Tân Châu [gần thành Chà Bàn, Quy Nhơn], thì được biết vùng này đã bị An Nam chiếm. Bèn hàng hải tiếp đến Linh Sơn thì được tin cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt. Vì trên thuyền chở nhiều hàng hoá nên phải hành trình tiếp đến Mãn Thứ Gia [thuộc vùng đất Mã Lai hiện nay] để bán hàng, rồi mới trở về Trung Quốc :

Ngày 14 tháng 12 năm Thành Hoá thứ 10 [21/1/1475]

Công khoa Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại những thứ đã mang đi như chiếu sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa, đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho Quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu, Chiêm Thành ; quân phòng thủ từ chối không cho vào, người thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm, còn Quốc vương Chiêm Thành tị nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành bị đổi tên thành châu Giao Nam. Bọn Tuấn không dám ghé vào ; nhưng thuyền chở hàng hoá tư, cùng nhiều thương nhân, nên giả lấy cớ bị gió bão rồi hàng hải tiếp đến Mãn Thứ Gia buôn bán, lại dụ Vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành, cùng việc Quốc vương Mãn Thứ Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ…

(MINH THỰC LỤC v. 45, t. 2553-2554 ; Hiến Tông quyển 136, trang 6a-6b.)

Bản đồ 3 : Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á

– Từ phía trong cảng Tân Châu theo dòng nước sâu 18 sải tay, nhắm hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Bán Dự. Tại Bán Dự có tháp bằng đá, có thể ghé thuyền. Phía trong theo luồng nước sâu 8,9 sải tay, ngoài sâu 20 sải, phía nam có đá ngầm không thể đến gần, theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Yên Ðổng. Ðây là nơi phân giới giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành, nhìn lên thấy mây như ống khói nên đặt tên như vậy ; tuy trời tạnh nhìn lên núi vẫn thấy khí mây bao phủ.

Tuy hai địa danh Bán Dự và Yên Ðổng không ghi trong ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, nhưng căn cứ thời gian hàng hải có thể đoán rằng Bán Dự tức bán đảo Hoà Lợi thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên ; ngoài ra chữ “ bán dự ” cũng có nghĩa là bán đảo. Riêng Yên Ðổng có thể là vịnh Xuân Ðài, giáp giới huyện Tuy An, Phú Yê ; nơi này gần núi cao, mây bao phủ nên gọi là Yên Ðổng chữ này cũng có nghĩa là mây tuôn như ống khói. Ngoài ra theo văn bản MINH THỰC LỤC nêu trên, thì đất Tân Châu đã bị An Nam chiếm, vua Chiêm trốn về Linh Sơn, vậy thời gian cuối thế kỷ thứ 15, Yên Ðổng có khả năng là nơi phân giới giữa An Nam và một phe Chiêm Thành . Riêng ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ xác nhận biên giới lúc bấy giờ tại núi Thạch Bi huyện Tuy Hoà ; núi Thạch Bi cao, có chi nhánh chạy ra biển ; vậy phải chăng các địa danh Yên Ðổng, Thạch Bi đều chỉ chung một rặng núi.

– Từ Yên Ðổng theo hướng Bính Ngọ [172,5 độ], thời gian 3 canh đến Linh Sơn. Nơi đây là một thắng cảnh, núi đảo liên tiếp, dưới thì sông suối quanh co như dây đai, trên có núi hình như đầu Phật nên có tên là Linh Sơn. Thuyền bè vãng lai, người sùng đạo Phật tụng kinh, thả đèn hình giống thuyền trên sông, để cầu khỏi tai họa trên biển.

Theo sự mô tả nêu trên, cùng MINH THỰC LỤC, thì địa danh Linh Sơn có thể là thị xã Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên ngày nay. Từ đó thuyền ra khỏi mũi Ðại Lãnh, hướng kim nam châm thẳng đến đảo Côn Lôn, hoặc men theo bờ bể tiếp tục cuộc hải hành như sau :

– Từ Linh Sơn theo luồng nước sâu 60 sải tay, nhắm hướng đơn Ngọ [180 độ], thời gian 2 canh đến Già Nam Mạo. Trong cảng này có 3 đảo nhỏ, lúc thuỷ triều lên thì không thấy. Qua núi, theo luồng nước sâu 15 sải tay, nhắm hướng Khôn Mùi [217,5 độ] thời gian 5 canh từ Khuê Long vào La Loan Ðầu tức cảng Chiêm Thành.

Căn cứ và thời gian hàng hải phỏng đoán rằng Giả nam Mạo tức Mũi Gành tại phía bắc tỉnh Khánh Hoà, còn cảng Chiêm Thành tức thành phố Nha Trang.

– Từ La Loan Ðầu theo luồng nước sâu 50 sải tay, nhắm hướng Khôn Thân [232,5 độ], thời gian 5 canh tới Xích Khảm Sơn. Ðời Tống vua Chiêm Thành trốn Giao Chỉ thường dời đến ở đây.

Theo hướng kim chỉ nam được ghi nhận dưới đây, từ Xích Khảm Sơn theo hướng 210 độ đến đảo Côn Lôn ; như vậy ngược lại từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn là [(210+180)-360=30] 30 độ. Trên bản đồ hãy dùng kim chỉ nam đặt tâm điểm tại Côn Sơn, theo hướng 30 độ sẽ dẫn tới Phan Rang ; vậy Xích Khảm Sơn tức thị xã Phan Rang.

-Từ Xích Khảm Sơn theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn. Ðây không phải địa danh Côn Lôn trên nguồn sông [chỉ núi Côn Lôn tại Trung Quốc], mà chính là thắng cảnh Côn Lôn trên biển cả. Nơi đây núi cao mà vuông, chân núi rộng ; tục ngữ cảnh báo dân đi biển rằng : thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn (sợ nhất là Thất Châu, rồi đến Côn Lôn) ; vì qua những nơi này nếu không cẩn thận đi lệch hướng kim nam châm hoặc lạc tay lái, có thể đâm vào chốn nguy hiểm khó tồn tại. Tại Côn Lôn theo hướng đơn Canh [255 độ] và Canh Dậu [262.5 độ] sẽ đến Tiểu Côn Lôn.

Theo TẬP BẢN ÐỒ HÀNH CHÍNH 64 TỈNH, THÀNH PHỐ VIỆT NAM của Nhà Xuất Bản Bản Ðồ, tại đảo Côn Sơn có núi An Hải cao 577 mét, từ đảo chính theo hướng 255 độ có đảo Hòn Bà.

Bản đồ 4 : Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á

– Từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Thân [232,5 độ] cùng Canh Dậu [262,5 độ], thời gian 30 canh đến Cát Lan Châu. Cát Lan Châu là bến cảng của nước Ðại Nê. Xưa gọi là Bột Nê [Borneo 渤泥], nước này thường đến triều cống Trung Quốc qua tỉnh Phúc Kiến.

– Từ núi Côn Lôn theo hướng Tân Dậu [277,5 độ] thời gian 26 canh đến Lục Khôn, đó là thuộc quốc của nước Tiêm La.

– Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217,5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187,5 độ] đến nước Bành Hanh [tức Pahang thuộc Mã Lai]

*

Qua hai bài khảo luận Biển Giao Chỉ và Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á chúng ta thấy rằng suốt trong 3 triều đại Tống, Nguyên, Minh vắng bóng những chuyến hải hành qua vùng biển chữ U, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng đòi chủ quyền. Nếu một, hai lần các tác giả Trung Quốc nhắc đến Vạn Lý Thạch Ðường, tức quần đảo Hoàng Sa của ta, thì cũng chỉ báo động chỗ đó là nơi nguy hiểm chớ nên đến mà thôi ; như tác giả LÃNH NGOẠI ÐẠI ÐÁP mô tả “ Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thuỷ triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này, nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều, nên may thoát được ” hoặc tác gỉả ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO từng báo động “ Phía đông châu Vạn [thuộc đảo Hải Nam] là biển Vạn Lý Thạch Ðường, thuyền lạc vào đó khó thoát được.” 

Tác giả: Hồ Bạch Thảo

Nguồn: Diendan

Chú thích:

Biển Giao Chỉ, Diễn Ðàn forum, ngày 9/4/2010.

Chỉ Nam Châm, trang mạng Duy Cơ Bách Khoa.

Trịnh Hoà hạ Tây Dương, Tự Do đích bách khoa toàn thư.

1 trượng = 10 xích ; 1 xích = 0,32 mét.

ÐẠI NAM NHẤT THỐNG CHÍ, bản dịch của Viện Sử Học, tập 3, trang 47.

Theo sử Việt, sau khi đánh bắt Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông chia Chiêm Thành thành 3 nước nhỏ.

ÐÔNG TÂY DƯƠNG KHẢO, quyển 9.

——————————————————————————————————

Xem thêm bài viết về Biển Giao Chỉ của cùng tác giả Hồ Bạch Thảo. Bài viết nhắm nhắc nhở một vài người Trung Hoa, hãy đọc kỹ sử chí nước họ; để khỏi nói càn rằng đảo Bạch Long Long Vĩ không thuộc chủ quyền Việt Nam.

Hai bộ sách trong Tứ Khố Toàn Thư có tên Lãnh Ngoại Ðại Ðáp (嶺外代答) và Ðông Tây Dương Khảo (東 西洋考) đề cập nhiều lần đến Giao Chỉ dương tức biển Giao Chỉ.

Lãnh Ngoại Ðại Ðáp do Chu Khứ Phi soạn. Khứ Phi người đất Vĩnh Gia, đậu Tiến sĩ năm Long Hưng thứ 1 [1193] ; từng giữ chức Thông phán tại Quế Lâm, Quảng Tây. Vì làm quan lâu năm tại đây, nên có nhiều bạn hữu hỏi thăm về lịch sử địa lý phong tục vùng này ; số người muốn biết rất đông, phải trả lời phát mệt, nên ông viết bộ sách thay thế, sách nhan đề Lãnh Ngoại Ðại Đáp có nghĩa là “ thay lời giải đáp về vùng đất Lãnh Ngoại ”, sách gồm 10 quyển.

Qua nhan đề sách, cần phân biệt các từ ngữ “ lãnh ” và “ sơn ”. Sơn là núi thuần tuý, lãnh là núi có đường đi qua ; ví như tại nước ta thì các núi tại đèo Cả, đèo Ngang đều có thể gọi là lãnh. Tuy nhiên Chu Khứ Phi xét trên thực tế cho rằng Ngũ Lãnh là 5 con đường chính vào đất Lãnh Ngoại, có thể qua núi, có thể không :

– Từ đất Ðinh thuộc Phúc Kiến vào Tuần Mai, Quảng Ðông ; là đường thứ nhất.

– Từ Nam An, Giang Tây vượt qua Ðại Dữu vào Nam Hùng, Quảng Ðông ; đường thứ hai.

– Từ đất Lâm thuộc Hồ Nam vào đất Liên ; đường thứ ba.

– Từ đất Ðạo vào đất Hạ, Quảng Tây, là đường thứ tư.

– Từ đất Toàn vào Tĩnh Giang, là đường thứ năm.

Còn Lãnh Ngoại tại đâu ? Tức lãnh thổ nước Nam Việt thời nhà Triệu ; bằng cớ được thấy qua thư của Hán Văn đế gửi cho Nam Việt vương Triệu Ðà vào năm Hán Văn đế thứ nhất [-179], do Sứ thần Lục Giả trao tay cho Triệu Ðà, có đoạn như sau :

“ …Nay lấy đất của Vương không đủ lớn thêm được, lấy của cải của Vương cũng không đủ giàu thêm được, thôi thì từ Ngũ Lãnh trở về nam do Vương tự trị. Tuy nhiên với danh hiệu Ðế mà Vương tự xưng ; như vậy có hai Ðế cùng tồn tại, lại không còn sứ giả đi lại, tức là tranh chấp. Nếu tranh giành mà không biết nhường nhịn, bậc quân tử không ai làm như vậy. Mong rằng sẽ cùng Vương bỏ sai lầm cũ, để hai nước thông sứ như cũ. Bởi vậy Trẫm sai Lục Giả mang dụ cáo Vương, Vương hãy nhận lấy, đừng đánh phá thêm nữa… ” (1)

Xét về lai lịch vùng đất này, Chu Khứ Phi xác nhận trước đó đã bị Tần Thuỷ Hoàng thôn tính [-214] :

“ Từ khi Hoàng đế nhà Tần thôn tính thiên hạ, xẻ núi làm đường, lược định Dương Việt, đặt ra Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận.” (2)

Ðến đời Hán Vũ đế [-111] xâm lăng nước Nam Việt của nhà Triệu, tiện thể chiếm đảo Hải Nam ; chia tất cả thành 9 quận :

“ Hán Vũ đế bình Nam Việt chia đất Quế Lâm của nhà Tần thành 2 quận : Uất Lâm và Thượng Ngô ;chia Tượng quận thành 3 quận : Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam ; [Nam Hải được giữ tên cũ] cắt phần đất thừa của Nam Hải và Tượng quận lập quận Hợp Phố ; từ đất Từ Văn vượt biển chiếm đảo Hải Nam chia thành 2 quận : Chu Nhai và Ðam Nhĩ. ” (3)

Như chúng ta đã biết 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc đất Ðại Việt cũ, Cửu Chân là Thanh Hoá, Giao Chỉ tại phía bắc Cửu Chân tương đương với Bắc Việt ngày nay, tức từ tỉnh Ninh Bình lên phía bắc cho đến biên giới Trung Quốc ; vậy biển Giao Chỉ, hay Giao Chỉ dương còn có thể gọi là biển Bắc Việt.

Chu Khứ Phi xác nhận Giao Chỉ dương, tại phía tây đảo Hải Nam, ông mô tả như sau :

Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng ; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên (4) ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang ; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Ðông Ðại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường (5) rộng vạn dặm, nước thủy triều (6) thi triển đẩy vào chốn cửu u (7). Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này, nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được.

Bản đồ Google chỉ vùng biển Giao Chỉ

Phiên âm và chú thích bản đồ Google :

Beihai : Bắc Hải thị, thuộc phủ Liêm Châu đời Thanh.

Changgiang lizu: Xương Giang Lê tộc, thuộc phủ Quỳnh Châu thời Thanh

Dongxing : Ðông Hưng, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.

Fangchenggang : Phòng Thành cảng, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.

Hepo : huyện Hợp Phố, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.

Lezhou : phủ Lôi Châu thời Thanh.

Lingao : huyện Lâm Cao thuộc phủ Quỳnh Châu [Hải Nam]

Xuwen : huyện Từ Văn, thuộc phủ Lôi Châu

Nhìn lên bản đồ Google, vị trí biển Giao Chỉ hoặc Giao Chỉ dương, về phía Việt Nam gồm duyên hải các tỉnh Ninh Bình, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh. Về phía Trung Quốc, Giao Chỉ dương nằm ngoài vùng biển thuộc 3 phủ của Trung Quốc, đó là : Liêm Châu, Lôi Châu, và Quỳnh Châu. Căn cứ bản đồ và những điều mô tả trong Trù Hải Ðồ Biên (籌 海 圖編) của Hồ Tôn Hiến thời Gia Tĩnh triều Minh, và Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí (欽定大清一統志) thời Càn Long nhà Thanh, thấy được vùng duyên hải 3 phủ như sau :

– Vùng biển phủ Liêm Châu, từ tây sang đông bắt đầu từ biên giới Việt Nam cho đến giáp giới phủ Lôi Châu, có các đơn vị hành chánh hiện nay như Ðông Hưng thị [Dongxing], Phòng Thành cảng [Fangchenggang], Khâm châu thị [Quinzhou], huyện Hợp Phố [Hepu], Bắc Hải thị [Beihai]. Bờ biển dài khoảng 150 km, đảo ngoài xa như Ô Lôi cách bờ biển khoảng 90 km.

– Vùng biển phủ Lôi Châu, phía tây giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 150 km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như Lôi Châu thị [Leizhou], huyện Từ Văn [Xuwen] ; đảo xa phải kể đến Khốn Châu, cách bờ khoảng 60 km.

– Vùng biển phía tây phủ Quỳnh Châu [Hải Nam] giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 300 Km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như : huyện Lâm Cao [Lingao], Ðam Châu thị [Danzhou], cảng Xương Hóa [Changjang Lizu], Tam Á thị [Sanya].

Có thể nói rằng ngoại trừ phần lãnh hải 3 phủ nêu trên, phần còn lại là biển Giao Chỉ, bề ngang từ tây sang đông trên 200 km. Nay xét đến đảo Bạch Long Vĩ tại toạ độ địa dư 20.08 bắc 107.44 đông, chỉ cách bờ biển Hải Phòng chưa đến 100 km, ắt phải nằm trong biển Giao Chỉ, tức thuộc lãnh hải Việt Nam.

Hãy nhìn lại bản đồ Trung Quốc và vùng Ðông Nam Á ; từ các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, và phía bắc Quảng Ðông, thủy trình ngắn nhất đến các nước Ðông Nam Á như Chiêm Thành, Chân Lạp, Trảo Oa (8) vv… phải theo hướng nam, tức phía đông đảo Hải Nam. Nhưng trên thực tế họ tránh quần đảo Hoàng Sa, với sự hãi hùng như tác gỉả Lãnh Ngoại Ðại Ðáp đã mô tả “ Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u. Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều, nên may thoát được ” ; nên đã chọn một hải trình xa hơn, hải trình này men theo hướng đông tây, luồn qua eo biển giữa phủ Lôi Châu và Hải Nam, đến biển Giao Chỉ, rồi tiếp tục theo hướng nam đến các nước Ðông Nam Á.

Cũng qua đoạn văn trích dẫn, thấy được sự thiếu đứng đắn của các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi đề cập đến yếu tố lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Họ thường nêu tên tác phẩm Lãnh Ngoại Ðại Ðáp của Chu Khứ Phi, với Trường Sa Thạch Ðường, như là một bằng cớ về đời Tống đã làm chủ đảo này ! Nhưng họ không dám nêu trọn văn bản, để biết rằng tác giả Chu Khứ Phi tự nhận rằng chỉ “ truyền văn ” [nghe nói, rumor] chứ không có bằng chứng ; và kẻ thực sự đến được chỗ đó chỉ là người trên chiếc thuyền bị trôi dạt, may mà thoát được thân ! Nói một cách khác, từ đời Thanh trở về trước chỉ có một vài thuyền Trung Quốc bị gió trôi dạt, và một ít dân nghèo làm nghề đánh cá mạo hiểm đến quần đảo Hoàng Sa mà thôi.

Như đã đề cập tại phần mở đầu, Ðông Tây Dương Khảo của Trưởng Biến thời nhà Minh, cũng đề cập nhiều lần đến biển Giao Chỉ. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, cung cấp các tài liệu hàng hành [navigation] cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng đông nam Á. Trương Biến cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator] căn cứ vào tài liệu nêu trên, để hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý :

– Phương hướng : trên thuyền có chỉ nam châm [指南針, compass], lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được ; ví như hướng đơn Hợi = 330 độ ; hướng Nhâm Tý = 352.5 độ.

– Khoảng cách : không tính bằng dặm, mà tính bằng canh ; một ngày một đêm có 10 canh.

– Ðộ sâu : không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thuỷ thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.

Nhờ tài liệu nêu trên, nên chúng ta biết rằng thương thuyền Trung Quốc, cùng các thuyền chở sứ giả thời nhà Minh, đến vùng đông nam Á, đều chuẩn bị khởi hành tại biển Giao Chỉ, rồi men theo bờ biển An Nam, Chiêm Thành ; có thể ghé qua một vài địa điểm thuận tiện như Thanh Hoá, Hội An, Quy Nhơn để buôn bán, tìm nguồn cung cấp về thực phẩm và nước ngọt. Hầu như họ chưa bao giờ ra đến cái gọi là vùng biển lưỡi bò chữ U, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng rêu rao để đòi chủ quyền ! Ðặc biệt các tàu thuyền đi xuống vùng Mã Lai, Singapore, Nam Dương hiện nay, đều ghé đất Linh Sơn thuộc nước Chiêm Thành cũ, một địa điểm tại tỉnh Phú Yên hiện nay, để từ đó ra khỏi mũi Ðại Lãnh gần vũng Rô. Nơi này không còn bị núi che khuất ; có thể hướng chỉ nam châm thẳng đến đảo Côn Lôn, đảo có núi cao dễ nhận biết ; để từ đó lại dùng chỉ nam châm dẫn đến nước muốn đến. Mọi chi tiết về hàng hành từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á xin hẹn trình bày chi tiết qua bài viết khác.

Chú thích:

1. Xem Triệu Ðà và nước Nam Việt, Hồ Bạch Thảo, Diễn Ðàn, ngày 29/5/2009

2. Lãnh Ngoại Ðại Ðáp, quyển 1, trang 12.

3. Lãnh Ngoại Ðại Ðáp, quyển 1, trang 12-13.

4. Nước Phiên : Trung Quốc xưa chỉ các nước thuộc vùng đông nam Á, như An Nam, Chiêm Thành, Tiêm La, Tam Phật Tề vv…

5. Người Trung Quốc xưa gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là Vạn Lý Trường Sa Thạch Ðường ; vì tại đó có bãi cát rộng, đảo vây biển thành ao nước có đá san hô bao quanh như thạch đường [thạch đường có nghĩa là ao xung quanh bằng đá].

6. Nguyên văn “ vĩ Lư ” chỉ thủy triều ; điển lấy từ bài Thu Thuỷ của Trang Tử như sau : “ Thiên hạ chi thủy, mạc bất ư hải, vạn xuyên quy chi, bất tri hà thời chỉ nhi bất doanh ; vĩ lư tiết chi, bất tri hà thời dĩ nhi bất hư ” ; ý nói trong thiên hạ không đâu nhiều nước bằng biển ; vạn sông chảy vào không biết đến bao giờ thì dừng, thuỷ triều thi triển không biết lúc nào dứt.

7. Cửu u : nơi tối tăm mờ mịt, như đi vào âm phủ.

8. Trảo Oa : Java.

Advertisements

5 phản hồi to “Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á”

  1. […] Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á […]

  2. […] Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á […]

  3. […] Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á […]

  4. […] Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á […]

  5. […] Trung Quốc thời Tống, Nguyên, Minh hàng hải xuống vùng Ðông Nam Á […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: